Chapter 2: Curse This Fate
All the Shah's Men, by Stephen Kinzer
(Translated by Alexander Le)
Trỗi dậy lên một cách ấn tượng từ vùng sa mạc miền nam của Ba-Tư, với những dãy núi xa xa tạo nên sự uy nghi trong cảnh trí, thành Persepolis đỗ nát một cách ngoạn mục là chứng cớ cho sự huy hoàng một thời của vương quốc Ba-Tư (Persia). Nơi đây đã từng là một thủ đô của lễ nghi và linh hồn của một đế chế mênh mông bao la, được xây dựng bởi Cyrus, Darius, và Xerxes, những đấng minh quân tài giỏi phi thường mà danh tiếng vẫn còn vang dội trong lịch sử. Tượng những con bò có cánh khổng lồ canh gác “Cổng Của Mọi Quốc Gia”, mà qua nó những hoàng tử của những bang quốc chư hầu phải một năm một lần vượt qua để tỏ lòng thần phục với những chủ nhân Ba-Tư của họ. Apadana hay là “Hội Trường Bái Kiến” to lớn vĩ đại, nơi những ông hoàng tử này cùng nhau quỳ trước cái chủ quyền đã mất của họ, có chiều dài khoảng 3 sân banh bóng bầu dục (football Mỹ - 300 yards = 275 mét). Mái nóc của nó được giữ vững bằng 36 trụ chống giữ cao ngất, mà một vài trụ vẫn còn tồn tại đến hiện nay. Hai cầu thang đồ sộ dẫn lên đến đại sảnh được trang trí với những thủ công điêu khắc chạm trổ chi tiết phức tạp, miêu tả nghi lễ thần phục hằng nằm, với thời điểm được chọn là ngày “xuân phân” (vernal equinox - bắt đầu của mùa xuân). Ngày hôm nay, tất cả đưa ra cho thấy một hình ảnh sống động của những hoàng đế Ba-Tư đã một thời hoàn toàn thống trị những mảnh đất mầu mở nhất trên trái đất.
Những nghệ thuật điêu khắc trưng bày hình ảnh những vua chúa của các nước chư hầu sắp hàng đến triều cống đấng lãnh đạo tối cao của họ, mỗi người mang theo những món quà tượng trưng cho sự giàu có của xứ sở họ. Những nhà khảo cổ đã tìm được cách để định dạng ra hầu hết những lễ vật này, và ngay những cái tên của những nền văn hoá này đã gợi lên sự dồi dào của cải vào thời cổ xưa này. Những kẻ hiếu chiến Elamites, sống ở miền đông của giòng sông Tigris, mang một con sư tử để tượng trưng cho bản chất hung bạo của họ. Arachosians từ vùng Trung Á (Central Asia) dâng hiến lạc đà và những bộ lông thú đắc giá. Armenians với một con ngựa và một cái bình với kiến trúc tinh vi sắc sảo. Ethopians với một con hưu cao cổ và một cái ngà voi. Somalis với một con linh dương và một xe ngựa đua. Thracians với những cây lao và những tấm khiên; và Ionians với những ống vải và dĩa kiểu đồ gốm. Người Ả-Rập (Arabs) dẫn một con lạc đà, Assyrians dẫn một con bò đực, người Ấn Độ (Indians) dẫn một con lừa chất đầy với những rỗ rá đan thủ công. Tất cả những vật triều cống này được đặt trước mặt đấng Hoàng Đế của tất cả vị vua; môt quốc vương với sự ngự trị trên thế lực trãi dài lãnh thổ của Ba-Tư đến bờ ranh của thế giới được biết đến thời đó.
Nhiều quốc gia trong vùng Trung Đông là sản phẩm của nhân tạo. Những người thực dân Âu Châu đã vẽ những đường biên giới của quốc gia họ vào thế kỷ thứ 19 hay 20, thường thì với rất ít quan tâm đến phong tục và lịch sử địa phương, và những nhà lãnh đạo của họ phải chế ra những chuyện thần thoại kỳ dị lạ lùng để mang lại dân tộc tính cho quốc dân của họ. Nhưng đối với Ba-tư thì ngược lại. Đây là một trong những quốc gia lâu đời nhất trên thế giới, người thừa kế của những phong tục tập quán xa xôi đến cả nhiều ngàn năm, đến thời kỳ mà những người chinh phục kéo dài quyền trị vì của họ xuyên lục địa; thi sĩ và nghệ sĩ đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật với vẽ đẹp thanh nhã; và một trong những tục lệ, nghi thức tôn giáo dị biệt trên thế giới đã mọc rễ và đâm bông. Ngay cả trong thời cận đại, khi đã bị đánh dấu bởi những giai đoạn dài với tình trạng vô chính phủ, đàn áp, bất công, và chịu đựng, người Ba-Tư vẫn có niềm cảm hứng nồng nhiệt tạo nên bởi những di sản dân tộc của họ.
Nhiều yếu tố luân lưu trong dòng lịch sử Ba-Tư và mang đến sự thành hình của nó ngày nay. Một là sự ra sức liên tục (và thường là vô hiệu quả) trong việc tìm một giãi pháp tổng hợp giữa Hồi Giáo - tôn giáo mà đã được đặt lên bởi những người chinh phục Ả-Rập - và những phong tục cổ truyền phong phú trước thời Hồi Giáo. Một yếu tố khác, do được kích động bởi phong tục Hồi Giáo Shiite mà phần đông người Ba-Tư tin theo, là sự khát khao có được một cấp lãnh đạo công bằng chính đáng (mà họ được hưởng vô cùng ít ỏi). Yếu tố thứ ba, cũng do sự mài dùi niềm tin tưởng theo giáo phái Shiites, là một cách nhìn bi thảm về cuộc sống với nguồn gốc của tri giác là sự hy sinh vì tôn giáo và vì sự đau khổ chung của cộng đồng. Và yếu tố cuối cùng là, vì từ thời thượng cổ đến nay Ba-Tư luôn là một mục tiêu cho những nước ngoại xâm, nạn nhân của một vị trí địa lý trấn đóng trên một trong những con đường thông thương lớn nhất trên thế giới, và cùng lúc nằm trên một đại dương dầu hoả. Đó là những lý do làm cho họ phải luôn vùng vẫy tranh đấu để sống còn với những cường quốc ngoại bang luôn trong tình thế uy hiếp và chiếm đóng họ. Tất cả những trạng thái căng thẳng này đã cùng nhau kết hợp vào giữa thế kỷ thứ 20, tạo dựng và rồi sau đó triệt tiêu một nhân vật vĩ đại: Mohammad Mossadegh.
Những người di trú từ Trung Á và tiểu lục địa Ấn Độ đã bắt đầu đặt chân đến vùng đất mà bây giờ gọi là Ba-Tư vào khoảng bốn ngàn năm về trước. Họ bị đẩy đi bởi sự phối hợp giữa cái cạn kiệt nguồn tài nguyên và những cướp bóc của các bộ lạc hung tàn từ miền bắc và đông. Giữa trong đám người tránh nạn này là dân Aryans, và từ đó mà tên Iran (Ba-Tư) đã thành hình. Hoàng Đế Cyrus là người đầu tiên đoàn kết những đám dân di trú này. Ông là một trong những nhân vật của lịch sử có thiên tài nhìn xa thấy rộng, và là một nhân vật đầu tiên mang đến ý tưởng đặt một đế quốc trên vùng lãnh thổ mà được biết đến là Pars (sau này là Fars).
Sau khi lên nắm quyền hành vào năm 559 B.C., Cyrus khởi đầu một chiến dịch mà kết quả là tất cả những nhà lãnh đạo trên vùng cao nguyên mênh mông của Ba-Tư đều được đặt dưới sự thống trị của chính ông. Vài nơi ông ta đã chinh phục, nhưng đa phần là ông ta đã thắng bằng cách thuyết phục và những thỏa hiệp. Ngày nay, không những ông được nhớ đến với những cuộc chinh phục lừng lẩy, nhưng cùng với lối xử sự hòa nhã với những thần dân chư hầu dưới quyền thống trị của ông. Ông ta sâu sắc hiểu rằng, đó là cách chắc chăn nhất để xây dựng một đế quốc, hơn với những cách bạo động như đàn áp, khủng bố, và tàn sát.
Vào năm 547, Cyrus đã tiến quân vào Asia Minor (cũng biết đến với tên Anatolia, một bán đảo miền tây Á Châu nằm giữa Hắc Hải – Black Sea – và biển Mediterranean) và bắt chiếm thủ đô uy nghi Lydian của Sardis. Bảy năm sau đó, ông khuất phục quyền lực còn lại trong khu vực, Babylon. Qua những thập niên tiếp theo, ông và những người nối ngôi ông đã mang lại nhiều chiến thắng, gồm cả một trận bởi Xerxes mà Macedon, Thermopylae, và Athens đã bị chiếm giữ bởi một đoàn quân 180,000 binh sĩ, một đoàn quân với quy mô lớn hơn xa tất cả các đoàn quân mà Âu Châu đã thấy từ trước đến thời điểm này. Triều đại này được biết đến với tên Achaemenians, đã xây dựng một đế quốc vĩ đại nhất trong thời đại của nó. Đến 500 B.C. nó đã ôm vòng miền tây Mediterranean từ Hy Lạp (Greece) xuyên qua Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) hiện đại, Lebanon, Do Thái, Ai Cập, Lybia và kéo dài phương đông qua Caucasus đến những cỏi bờ của Indus. Cyrus gọi nó là Persia vì nó đã nảy nở từ căn cứ của ông ta ở Pars.
Những hoàng đế Achaemenians nỗi tiếng là khoan dung và sẵn sàng đón nhận mọi đường lối dẫn đến sự sống, cùng các quan điểm chính trị. Bản tính đó đã phát sinh từ một phần do mối liên hệ của họ với đạo lý Zoroastrian; một đạo lý buộc tất cả mỗi con người đều mang một trách nhiệm thiêng liêng là phải dốc sức tiến đến thiết lập luật pháp xã hội công bằng trên toàn cầu. Zoroastrians tin nhân loại đang bị khóa chặt trong một sự đấu tranh triền miên giữa thiện và ác. Đạo lý của họ đã được cho là tôn giáo khám phá đầu tiên thuyết pháp về việc con người phải đối diện với sự xét xử sau khi chết, và mỗi linh hồn sẽ phải mãi mãi ở thiên đàng hay địa ngục. Theo nhận xét của nó, Thượng Đế sẽ xét xử theo cách sống của mỗi người, đo lường bằng những ý nghĩ, những ngôn từ, và những hành vi của họ. Nhà tiên tri Zoroaster, sau này được biết bởi người Âu Châu với cái tên Zarathustra, đã sống vào khoảng thời gian giữa thế kỹ thứ 10 và 11 B.C. trong khu vực mà hiện nay là miền bắc của Ba-Tư, đã thuyết pháp điều tín ngưỡng này sau khi tiếp nhận một loạt những điềm báo tiên tri. Chủ nghĩa Zoroastrianism đã có ảnh hưởng sâu sắc trong nền lịch sử Ba-Tư, không chỉ vì Cyrus đã dùng nó trong những chiến dịch thành công táo bạo cho việc xây dựng đế quốc, mà còn bởi vì nó đã chiếm trọn vẹn trái tim của những người tin tưởng vào nó qua một đoạn thời gian dài trong nhiều thế kỷ.
Tôn giáo Zoroastrian dẫn dạy người Ba-Tư là mỗi công dân đều mang một trọng trách phải soi sáng cấp lãnh đạo; và bổn phận của kẻ thần dân không chỉ đơn thuần là tuân theo lệnh của các đấng vua chúa, mà còn phải nỗi dậy chống lại những vị vua chúa ác độc hay những bạo chúa. Những nhà lãnh đạo được xem như là những đấng đại diện cho Thượng Đế trên đời phàm tục, nhưng họ chỉ đáng được trung thành khi họ có được farr, đó một loại phúc lành thiêng liêng mà họ chỉ có được qua phương cách làm việc hợp đạo đức và luân lý. Để tụng niệm cho phúc lành này, hằng bao nhiêu thế hệ của những người lãnh đạo Ba-Tư đã viếng những đền đài của tôn giáo Zoroastrian, nơi mà những ngọn lửa thiêng được đốt liên tục để tượng trưng cho sự quan trọng của luôn luôn thận trọng cảnh giác chống lại bất công, và những việc trái với đạo lý luân thường.
Cyrus và những vì vua khác trong dòng tộc của ông đã thắt chặt đế quốc của họ lại với đường xá, cầu cống, một loại tiền đồng nhất, một phương pháp thu thuế hiệu quả, và một dịch vụ bưu tín đường xa đầu tiên trên thế giới. Nhưng cuối cùng và chắc hẳn không tránh khỏi, dòng thuỷ triều của lịch sử đã xoay ngược chống lại họ. Đế quốc của họ đã bắt đầu bị lung lay sau khi Darius, người lãnh đạo vĩ đại cuối cùng của Ba-Tư, đã thua trong trận chiến sống còn “Battle of Marathon” ( Trận Chiến Marathon) vào năm 490 B.C. Người đưa ra đòn kết liểu này, không ai hơn được, là kẻ chinh phục Alexander, người đã tiến vào Ba-Tư năm 334 B.C., mà trong một cơn thịnh nộ đã cướp phá và phóng hỏa Persepolis.
Trong mười thế kỷ sau đó, qua những giai đoạn thống trị bởi ba triều đại, dân Ba-Tư đã nuôi dưỡng và tăng đậm thêm những cảm nghĩ sâu sắc của họ về niềm tự hào và tính cao thượng. Họ tăng trưởng thịnh vượng bằng hội nhập đồng hoá với những ảnh hưởng từ các vùng đất chung quanh họ, đặc biệt là từ Hy Lạp, Ai Cập, và Ấn Độ. Họ đã nắn tạo lại những ý tưởng này trong khuôn khổ của niềm tin Zoroastrian trong riêng dân tộc họ. Vào thế kỷ thứ 3 A.D, họ đã bắt đầu trở lại trên đỉnh cao hùng mạnh của thế giới với một phạm vi rộng lớn để có thể nhớ đến thời huy hoàng của các hoàng đế trước, bắt chiếm Antioch, Jerusalem và Alexandria, rồi tiến chiếm những bức tường thành của Constantinople. Vào năm 626, quân đội Ba-Tư đã chịu thua ngược lại dưới tay người Byzantines, nhưng cuộc chiến bại vĩ đại vẫn chưa đến. Một vài năm sau, một đội quân đã trỗi dậy từ vùng bán đảo cằn cổi Ả Rập và họ đã quay sang nước Ba-Tư. Những người Ả Rập này đã đến không chỉ võ trang với những vũ khí thường lệ của chiến tranh, mà còn với một tôn giáo mới lạ, đạo Hồi Giáo.
Cuộc xâm lăng bởi những người Ả Rập, mà đối với những người dân trí thức Ba-Tư đã xem họ không hơn là một lũ người man rợ, đã là một điểm quyết định thay đổi chiều hướng của lịch sử quốc gia Ba-Tư. Định mệnh của Ba-Tư đã đi song song với nhiều đế quốc. Quân lực của họ đã bị hao mòn bởi những cuộc trường chinh, và những người lãnh đạo của họ đã bị trượt ra khỏi cái mà những đạo sĩ Zoroastrian gọi là vương quốc của ánh sáng, mà đang đi vào cái bóng tối u ám, và những đạo sĩ này đã từ bỏ những công cuộc giảng đạo trong dân chúng. Người dân ngã vào nghèo khó vì chính quyền tham lam đặt ra những thuế má không ngừng tăng. Hành động bạo quyền chuyên chế đã xé tan hợp đồng giữa xã hội và kẻ thống trị và định luật bởi học thuyết chủ nghĩa Zoroastrian nắm giữ cái nền tảng của đời sống nề nếp có tổ chức. Dựa trên những tiêu chuẩn cho cả chính trị lẫn tôn giáo, triều đại cuối cùng của thời đại tiền Hồi Giáo - triều đại Sassanians - đã hoàn toàn mất quyền thống trị. Theo lối suy xét một cách lạnh lùng của lịch sử thì nó phải bị hủy diệt bởi những người đang nỗi dậy với niềm tin bốc cháy mãnh liệt trong những cấp lãnh đạo của họ, trong những chính nghĩa của họ, và trong những đức tin của họ.
Quyền lực của Sassanian xoay vòng ở trung tâm Ctesiphon, một thủ đô giàu sang vương giã của Mesopotamia. Đây không phải là một thành phố với những hàng trụ trang nghiêm oai vệ như Persepolis, mà là một nơi được tắm trong những thừa mứa hoang phí quá độ. Cung điện của họ được trang trí với những sưu tập ngọc đá quý như trong truyện thần thoại đến khó tin, và được canh gác bởi những khối tượng bằng vàng và bạc đặc ruột. Điểm trọng tâm là ngôi đền tiếp kiến có nhiều phòng ốc của nhà vua, trong đó điểm đặc trưng là một tấm thảm lụa chín mươi bộ Anh vuông (90 square-foot ≈ 8.36 mét vuông) miêu tả một vườn hoa, biểu tượng cho sự giàu sang và uy quyền của đế quốc này. Những viên hồng ngọc, những viên ngọc trai, và những viên kim cương đã được thêu vào với chỉ bằng vàng. Khi những người chinh phục Ả Rập tấn chiếm Ctesiphon vào năm 638, họ đã cướp phá cung điện và gửi tấm thảm lụa này về Mecca. Ở đây, những người lãnh đạo Hồi Giáo đã ra lệnh cắt nó thành nhiều mãnh để chứng tỏ cái lòng kinh miệt của họ đối với những cái giàu sang trên hạ giới. Họ đã hủy diệt vô số di vật bảo tàng, gồm cả nguyên thư viện hoàng gia. Trong một bài than van ai oán bi thảm của nhà thi sĩ Ferdowsi, người Ba-Tư vào thế ký thứ mười, đã rên rỉ: “Nguyền rủa thế giới này, nguyền rủa thời đại này, nguyền rủa định mệnh này… Những kẻ mọi rợ Ả Rập đã đến và bắt buộc tôi phải trở thành người Hồi Giáo!”
Sau đó cũng trong bản thiên sử thi này, bài Shahnameh, một bài dài hơn gấp bốn lần bài Iliad và tốn mất ba mươi lăm năm để sáng tác, Ferdowsi miêu tả một cách linh động về ông Rustam, người chỉ huy Ba-Tư khi bị bại trận đã rên rỉ với những tai họa ông đã nhìn thấy trước:
“Ôi! Ba-Tư! Những vì vua đã tô điểm cho đất nước
Với công lý, công bằng, và tính hào phóng, những người đã tuyên dương đất nước,
Với phù hoa tráng lệ và những rực rỡ huy hoàng, đã đi đâu?
Từ ngày mà những kẻ mọi rợ, dã man, thô lỗ
Bedouin Ả Rập đem bán con gái của vua trên hè phố
Và trong những chợ bán bò
Đất nước đã không thấy được một ngày có ánh sáng,
Và phải mãi nằm trong cảnh tối tăm mù mịt.”
Vào thời điểm cuộc chinh phục của người Ả Rập, người dân Ba-Tư đã có nhiều kinh nghiệm với phương cách hòa hợp theo những văn hóa ngoại quốc, và khi nào họ làm thế, họ lại uốn nắn những văn hóa này theo ý họ, và nhận lấy điều này trong lúc kháng cự lại điều kia. Thế nên đến khi họ bị buộc phải theo đạo Hồi Giáo, họ không có sự lựa chọn mà phải chấp nhận ông Mohammad là đấng tiên tri của Thượng Đế, và cuốn kinh Koran là những từ ngữ từ Thượng Đế. Nhưng qua một thời gian của vài thế kỷ, họ đặt ra kiểu giải thích đạo Hồi Giáo một cách khác lạ với những người Ả Rập xâm chiếm lãnh thổ họ. Cách giãi thích này, gọi là Shiism, dựa trên một đặc điểm đọc trong lịch sử của đạo Hồi Giáo, và nó có một cách ảnh hưởng tài tình về cách dùng đạo Hồi Giáo để củng cố những niềm tin tưởng của Ba-Tư từ ngàn xưa.
Vào khoảng 90 phần trăm dân số của một tỷ người đạo Hồi trên thế giới ngày nay là theo phong tục truyền thống Sunni. Trong những số còn lại, đa phần là người Shiites, và đa số họ là người Ba-Tư. Sự chia rẽ của hai nhóm này bắt đầu từ cách suy diễn khác nhau về ai đáng được nối ngôi nhà tiên tri Mohammad sau khi ông ta từ trần vào năm 632, trong tư cách giáo chủ tối cao (caliph), hay là người lãnh đạo của thế giới Hồi Giáo. Những người Shiites thì tin rằng, người hợp pháp được nối ngôi là Ali, một người anh em họ của ông Mohammad mà ông ta đã nuôi nấng từ nhỏ, và cũng đã cưới một trong những cô con gái của ông ta. Ali là một trong những người ông Mohammad đã đọc những lời tiên tri thiên khải cho chép xuống mà sau này trở thành cuốn kinh thánh Koran, và chính Ali cũng đã một lần nằm ngũ trong giường ông Mohammad làm con mồi để phá vỡ một cuộc mưu toan ám sát ông Mohammad. Nhưng một người khác đã được chọn làm giáo chủ, và không lâu sau đó ông Ali đã nằm trong tư thế đối lập. Ông ta chỉ trích tổ chức tôn giáo đang mưu cầu đeo đuổi theo uy quyền trên thế gian trần tục, và làm loãng đi sự tinh khiết của những di sản về tâm linh. Sự bất mãn về kinh tế đã kéo nhiều người theo phe ông, và cuối cùng sự xung đột đã mang đến bạo động.
Ali đã bị bỏ qua thêm hai lần nữa khi những người giáo chủ sau chết, và ông ta đã hiến thân mình trong việc giảng dạy một chủ thuyết của tôn thờ đạo giáo và công lý xã hội mà đã mang đến cho ông rất nhiều người theo, đặc biệt là những người trong hạ tầng giai cấp. Cuối cùng ông đã thắng được ngôi vị giáo chủ tối cao vào năm 656, nhưng cuộc xung đột chỉ tăng thêm cường độ, và trong vòng ngắn hơn 5 năm sau đó, ông đã bị ám sát trong lúc đang cầu nguyện ở một ngôi đền thờ ở Kufa. Đó là một làng đồn trú quân Mesopotamian đang như một vạc dầu sôi bỏng với nhiều mối xung đột tôn giáo. Theo truyền thuyết, ông ta biết là mình sẽ bị ám sát ngày hôm đó, nhưng nhất quyết không chạy trốn vì “không ai có thể chặn đứng sự chết”. Sau khi bị đâm, ông đã la lên, “Ô! Thượng Đế ơi, con quá được may mắn!”
Chiếc áo choàng chống đối sau đó được trao cho con của Ali, ông Hussein, người đã bị giết chết trong khi dẫn bảy mươi hai người tông đồ chống chọi lại với một quân đội cả vài ngàn trong một cuộc nỗi dậy kháng chiến trong tuyệt vọng ở Karbala vào năm 680. Sau đó, nhất quyết phải ém nhẹm truyền thuyết về Hussein, những nhân vật trong chính quyền đã ra lệnh bắt giết hầu hết người trong gia đình của ông. Thi thể của ông đã bị giày xéo trong bùn lầy và thủ cấp của ông đã được đưa về Damacus, nơi mà những người Shiites tin rằng nó vẫn tiếp tục tụng kinh Koran ngay trong lúc đấng giáo chủ đập nó với một cây roi. Tiếp tục kể về truyền thuyết này và những truyềnt thuyết khác về ông Hussein, “chúa tể của tất cả liệt sĩ chết vì đạo”, là sự kích thích cực điểm của những cảm xúc mãnh liệt lan tỏa ra Qom và những thành phố thiêng liêng trong nước Ba-Tư, vào ngày giỗ của ông hằng năm.
Sự nắm lấy cái chết trong một sứ mệnh thiêng liêng của tôn giáo, đã thành hình một tâm linh chung cho người dân Ba-Tư. Đến viếng thăm Qom trong thời điểm để tang tưởng nhớ cái chết vì đạo của ông Ali và Hussein, là phải bị quay cuồng trong những làn sóng cảm xúc quá mãnh liệt mà người ngoài khó hiểu được. Những đám rước diễn hành với đàn ông và con trai trong những y phục màu đen di chuyển chậm từng bước, như đang trong thế giới xuất thần, dẫn đến trước cổng của ngôi đền thờ chính. Trong lúc này, họ cùng nhau tụng những câu thơ điếu táng rền rỉ với những lời bi thảm ai oán, và họ tự quất mình với những roi có bịt đầu sắt cho đến khi vai và lưng họ chảy máu thành dòng. Trước những cửa hàng của các đền đài, những ông cố đạo nhắc lại câu chuyện bi thãm này với một cảm xúc mà không lâu sau khi họ bắt đầu, những tín đồ đã ngã nằm sóng xoãi với nỗi thương tiếc, khóc lóc không nén được, như là một chuyện bi kịch đau khổ tuyệt cùng của cá nhân họ, đã đè ép nát họ. Cái khung cảnh xác thật đầy ngoạn mục này chứng tỏ cho sự thành công của người Ba-Tư Shiites trong việc thành hình nền tảng giáo lý trong phong tục cổ truyền Hồi Giáo, nhưng hoàn toàn riêng biệt theo phong tục lề lối địa phương.
Người Sunnis không xem hai cái chết bất đắc kỳ tử của ông Ali và Hussein là quá quan trọng; nhưng đối với người Shiites, những người mang danh từ thành ngữ Shi’at-Ali, hay là “Những tín đồ của Ali”, đó là những sự kiện tai biến vô cùng vĩ đại. Đối với họ, ông Ali và Hussein biểu tượng cho cả hai sự huyền bí tâm linh đặc trưng của đạo Hồi Giáo nguyên thủy, và đời sống tự nguyện hy sinh mà một tín đồ Hồi Giáo thuần khiết buộc phải noi theo. Theo lối nhìn này, nắn tạo bởi truyền thống Zoroastrian, cả hai người anh hùng đã chống lại một tổ chức quyền lực đã trở thành thối nát đồi bại, và vì thế đã mất hết farr. Họ tin tưởng họ đã hy sinh, như một kẻ ngoan đạo phải làm, trên bàn thờ của điều ác và tội lỗi. Bằng cách làm như thế, họ đã đi theo đường lối mà đến nay vẫn còn nắn tạo ý thức của người dân Ba-Tư. Họ đã truyền lại cho người Shiites đời sau một truyền thuyết của tôn giáo với bầu nhiệt huyết và một sự bằng lòng; ngay cả sự hăng hái tóm lấy cái chết vì đạo ở trong tay những kẻ thù của Thượng Đế. Ông Ali vẫn tồn tại là một linh hồn hoàn hảo nhất và một người lãnh đạo sáng suốt nhất đã từng sống trên thế gian, ngoại trừ chính đấng tiên tri. Những tín đồ Shiites vẫn còn mãi mê nghiên cứu và nghiền ngẫm những bài thuyết giảng của ông và học thuộc lòng hàng ngàn câu tục ngữ, cách ngôn ông ta đã lưu lại. Ông Hussein là hiện thân của hy sinh cá nhân, một định mệnh không thể tránh được cho tât cả những ai thật lòng yêu thương Hồi Giáo và nhân loại. Sự việc tử đạo của ông ta đã được cho là có nhiều ý nghĩa đại đồng hơn là của ông Ali vì nó đã được hành xử bởi nhiều binh lính chính phủ, chứ không chỉ vì một người cuồng tín đơn độc. Nắm được cái sâu sắc của những nỗi khổ hình và hy sinh này là rất cần thiết trong tiến trình thông hiểu về một nước Ba-Tư hiện đại.
Người Shiites Ba-Tư xem ông Ali phải là người đầu tiên trong mười hai giáo chủ (imams) hợp thức được kế vị sau ông Mohammad. Vị giáo chủ thứ 12 còn là một thiếu niên khi ông ta đi vào cõi huyền bí, xa rời với thế giới hiện hửu, nhưng vẫn nhận biết những chịu đựng khốn khổ của thế giới này. Theo những tin đồ Ba-Tư, ông ta vẫn còn rõ ràng sống thật. Họ sùng kính ông như Giáo Chủ Thứ 12, thường được gọi là Giáo Chủ Ẩn Kín hay là Giáo Chủ của Thời Đại, và nhiều người tụng niệm mỗi ngày cho sự trở lại của ông ta. Khi ông trở lại, ông sẽ là Mahdi, hay là vị cứu tinh, người sẽ sửa hết điều sai thành lẽ phải và đưa vào một thời đại của nền công lý hoàn hảo. Cho đến lúc đó, những người lãnh đạo trần tục phải tích cực noi gương trí sáng suốt và tính đạo đức của ông ta. Khi họ thất bại trong việc làm này, là họ đã giày xéo lên không chỉ nhân quyền mà còn đến ý muốn của Thượng Đế.
“Đấng Giáo Chủ xem xét tất cả nội tâm của con người và cùng chia sẻ với tâm hồn và linh hồn của mọi người mặc dầu ông ta không thấy được với mắt trần,” nhà học giã Shiite của thế kỹ thứ 20, Allamah Tabatabai đã viết. “Sự hiện hửu của ông ta là luôn cần thiết, ngay cả khi chưa đến lúc để ông ta phải xuất hiện bên ngoài và sự thiết dựng toàn cầu ông ta sẽ mang đến.”
Cái truyền thống thâm sâu này đã đưa tâm linh của người Shiites Ba-Tư vượt qua cái mức học thuyết chủ nghĩa thông thường, đến cái mà nhà nhân loại học Michael M. J. Fischer đã gọi là “một bi kịch của đức tin.” Họ tôn sùng ông Mohammad, nhưng theo bản năng phản xạ, họ lại tập trung chú ý đến ông Ali và Hussein nhiều hơn xa. Họ ôm chặt lấy cái mà Fisher gọi là “một truyền thuyết trãi rộng bao gồm tất cả lịch sử, vũ trụ luận, và vấn đề nhân sinh” và củng cố nó với “những phong tục lễ nghi hay nghi thức hành xác để biểu hiện truyền thuyết này và duy trì mức cảm xúc cao độ đã được tích lũy.” Ông Ali và Hussein đã cho các tín đồ một mô hình kiểu mẫu để không phải chỉ biết nên sống thế nào mà còn là nên chết thế nào.
Sau khi ông Ali và Hussein đã từ trần vào thế kỷ thứ 7, đế quốc Ả Rập đã lên đến đỉnh cao quyền lực và rồi bắt đầu xuống dốc. Những người Ả Rập đã chinh phục Ba-Tư, lần lần hòa nhập vào đám dân số ô hợp đang hiện hửu. Trong lúc uy quyền của Ả Rập đang yếu dần, thì của người Shiites bắt đầu tăng lên, một phần là vì những cảnh báo họ đã có về tham nhũng của những triều đại trên trần tục đã được gầy dựng bởi sự quá độ từ những kẻ xâm lăng Seljuk Turks, và sự dã man của rợ Mông Cổ Genghis Khan (Thành Cát Tư Hãn) đã tàn phá cướp bóc Ba-Tư vào những năm của cuộc xâm lăng họ mang lại vào năm 1220. Khi uy quyền của người Mông Cổ bắt đấu suy yếu, quyền hành đã được chuyển giao cho triều đại Safavid, những nhà kháng chiến dựa trên đức tin của tôn giáo Shiite. Nhà lãnh đạo của dòng họ Safavid là Ismail, một người kháng chiến quân Shiite đã đưa những chiến sĩ của ông ta vào trận địa trong lúc la hét: “Chúng tôi là đệ tử của đấng giáo chủ Hussein, và đây là sự bắt đầu cho một kỷ nguyên mới của chúng tôi! Chúng tôi đồng nguyện làm nô lệ cho Đấng Giáo Chủ! Tên của chúng tôi là Cuồng Tín (Zealot) và danh hiệu của chúng tôi là Liệt Sĩ Chết Vì Đạo (Martyr)!”
Sau một loạt chiến thắng với sự trợ giúp của những người Shiites, và họ đã túa đến từng đàn bên ông từ những vùng đất khác, Ismail tự tuyên bố chính mình là vua (shah) vào năm 1501. Hành động đầu tiên của ông ta sau khi lên ngôi vua là công bố đạo Shiism là tôn giáo chính thức của quốc gia. Một bức tiểu họa danh tiếng đã vẽ cảnh này với một dòng chú thích như sau: “Vào ngày thứ Sáu, ông vua vừa tấn phong đã đi đến ngôi đền thờ Tabriz của hội giáo và ra lệnh cho vị giáo sĩ trù trì (một nhân vật chức sắc cao quý Shiite) leo lên bục giảng kinh. Sau đó chính nhà vua đã tiến lên đứng trước bục này và rút thanh kiếm Chúa Tể của Thời Gian (the Lord of Time), mong ước sự an lành sẽ đến với ông ta, và đứng đó như một ánh mặt trời chói chang.”
Đây không phải chỉ là một hành động đơn giãn về đạo giáo, mà đó là một hành động quan trọng nhất trong bước tiến đến tạo thành một quốc gia Ba-Tư. Ismail đã dùng tôn giáo Shiism để trợ giúp ông xây dựng một đế quốc chỉ trong vòng mười năm từ khi ông lên ngôi mà không những chỉ bao gồm phần lớn nước Ba-Tư hiện tại mà còn kéo dài từ Trung Á đến Baghdad và từ vùng băng giá Caucasus đến địa phận cát sa mạc của Vịnh Ba-Tư. Trong thời thống trị của Ismail, nước Ba-Tư hiện tại đã không chỉ phát triễn về phương diện chính trị mà còn cả đến phương diện tâm linh. Dân tộc Ba-Tư đã cùng gắn bó với nhau bởi một địa lý luôn luân chuyển, một ngôn ngữ, và một bộ truyền thuyết của những hào hùng vinh quang từ xa xưa; nhưng không có một cái gút dây nào trói chặt họ bằng sự hăng hái thống nhất cho một tôn giáo Shiism. Trong cái hân hoan ôm lấy tôn giáo này, người Ba-Tư đã chấp nhận đạo Hồi Giáo, nhưng họ không theo phương cách của những kẻ xâm lăng Ả Rập Sunni đã mong muốn. Họ đã chống đối trong lúc tỏ vẻ là đã chịu phục tùng.
Quan trọng nhất có thể là những người Ba-Tư này đã tìm ra một tổ chức, một thể chế mà cuối cùng đã trả tự do cho họ từ những quyền hành chính quyền, ít nhất là trong tâm linh họ. Ismail và những nhà lãnh đạo Safavid nối tiếp sau đó đều nghĩ rằng họ có thể kiểm soát đạo Shiism, và trong thời gian hai trăm năm kế tiếp họ đã làm được việc này. Nhưng trong sự hoà hợp giữa Shiism và Zoroastrianism, là niềm tin những người trị vì chỉ được ở ngôi vị đó khi mà họ sáng suốt và vì dân. Cuối cùng, niềm tin này đã đưa đa số quần chúng Shiite và những nối kết với các nhà lãnh đạo tôn giáo của họ, quyền lực chính trị và bầu nhiệt huyết, đã mang đến sự sụp đỗ của những chế độ tạm thời này.
Đến lúc ông Ismail lên nắm quyền, dân tộc Ba-Tư đã đạt đến đỉnh cao của một nền văn hóa. Mới vào đầu thế kỷ thứ 9 là những nhà trí thức của họ đã làm những chuyến viễn du xuyên qua thế giới của Hồi Giáo, tìm kiếm những nhà triết học uyên bác nhất, và những nhà khoa học gia thông thái nhất, để rồi họ phiên dịch và nghiên cứu những luận đề, những tác phẩm của các bậc uyên thâm như Plato, Aristotle, Archimedes, Euclid, Ptolemy, và những nhà tư tưởng khác của Hy Lạp. Các tay thợ thủ công đã có những bước tiến vọt ngoạn mục trong lãnh hạt kiến trúc và nghệ thuật đồ gốm. Những chuyên gia thủ công lập ra những phong cách nghệ thuật, tuy là bắt chước nhưng không bao giờ sánh bằng được, ngay cả chính các tay tổ từ Constantinople đến những vùng thảo nguyên của Trung Á cũng không bằng. Những nhà thi sĩ có sức thu hút quyến rũ mê say, đã soạn thảo những áng văn đầy mê ly và cảm xúc mà cho đến nay vẫn còn được truyền tụng trên thế giới. Phần đông trong đám người này, như nhà thi sĩ huyền bí thế kỷ thứ 13, Jelaluddin Rumi, chối bỏ hết những gì có tính chất chính thống:
Ta không theo một tôn giáo hay giáo điều tín ngưỡng nào hết,
Cũng không phải người phương Đông hay phương Tây,
Hồi Giáo hay vô thần,
Zoroastrian, Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo hay Tà Giáo,
Ta không phải đến từ đất liền hay từ biển đại dương,
Cũng không thuộc giòng liên hệ cỏi dương hay cỏi âm,
Đã không sinh ra gần đây hay một nơi chốn xa xôi,
Không phải sống trên thiên đường hay hạ giới,
Tự cho là không thành hình từ Adam hay Eve hay những thiên thần
trên thượng giới.
Ta vượt qua cả thân thể này và linh hồn này.
Tổ ấm của ta ngoài tầm địa điểm và địa danh.
Nó nằm trong yêu thương, trong một không gian xa ngoài không gian.
Ta hân hoan ôm chặt lấy tất cả, và ta là một phần của tất cả.
Những thành tựu văn hóa này có nghĩa là dân tộc Ba-Tư cuối cùng đã đạt được sự thống nhất trong chính trị, và họ trong tư thế vững chải tiến vào thời đại mới với sự tự tin trong trí sáng tạo, cùng với sức mạnh chính trị và tâm linh của họ. Vị vua của triều đại Safavid đã gây cảm hứng cho họ để tạo nên những thành đạt vĩ đại nhất của họ như một dân tộc, là vua Abbas Shah, người mà đến nay vẫn còn được truyền tụng là một vị anh hùng dân tộc. Ông đã trị vì trên ngôi vàng trên bốn mươi năm, từ năm 1588 đến năm 1629. Sự thành công trong việc thống nhất dân tộc và mang đến một cảm giác cùng chung định mệnh cho cả toàn dân, ít nhất là thâm sâu ngang bằng với sự thành công của những cấp lãnh đạo đương thời như Hoàng Hậu Elizabeth I của Anh Quốc và Hoàng Đế Philip II của Tây Ban Nha. Ông đã cho xây dựng những đường xá mà theo đó đã mang những thương gia Âu Châu vào các thành phố Ba-Tư, và đồng thời thiết lập những cơ xưởng sản xuất lụa, đồ gốm, và những sản phẩm dễ buôn bán được ưa chuộng bởi những thương gia này. Bộ máy quan liêu của ông đã thu thuế, thi hành luật pháp, và tổ chức đời sống cộng đồng mà chưa bao giờ được thành lập kể từ thời đại của Cyrus và Darius vào hai ngàn năm trước đây.
Ông Abbas đúng với nguyên mẫu của những người cai trị Ba-Tư không chỉ vì ông ta tự cống hiến đời mình để mang đến một thế giới tốt đẹp nhất vào vương quốc của ông ta; mà ông ta còn tính chất đặc trưng tiêu biểu là áp dụng lối chuyên chế ác nghiệt và cấm chỉ tất cả các hành vi chống đối chính thể chuyên chế của mình. Tra tấn và xử tử hình là chuyện tầm thường trong thời gian ông ngự trị. Ông đã bắt giam những người con trai của ông trong cung điện hoàng gia hàng nhiều năm trời, cho phép họ được hưởng lạc thú ân ái với những cung tần mỹ nữ nhưng không chấp nhận cho họ được giáo dục và đào tạo để chuẩn bị cho họ trở thành những nhà lãnh đạo tương lai – hay là, vì ông ta lo sợ, họ phản kháng lại lối cai trị của ông ta. Ông Abbas đã ám sát người con trai trưởng và hai người con thứ, hai người anh em ruột của ông, và cho làm mù mắt cha của mình.
Di sản vĩ đại nhất mà ông Abbas đã để lại cho hậu thế là thủ đô huy hoàng rực rở, Isfahan, nơi mà ông đã biến đổi thành một trong những thành phố tráng lệ nhất trên thế giới. Cho đến ngày hôm nay, những nóc điện vươn vút cao, những ngôi biệt thự hoàng gia cầu kỳ phức tạp, và những điện thờ phượng tụng kinh với những viên gạch trạm trỗ nguy nga tuyệt vời, mang đến nỗi kinh ngạc và cảm phục cho những ai vào thăm viếng. Đúng như nhiều thế hệ của người dân Ba-Tư đã tin tưởng: Isfahan nesf-i-jahan (Isfahan là một nữa thế giới). Abbas đã mang về những tay thợ thủ công điêu luyện Armenian để giúp ông ta xây dựng thành phố này, những thưong gia Dutch để khuếch trương tầm với của nền thương mại và chợ búa, và những nhà ngoại giao từ quanh thế giới để mang lại bầu không khí của một thành phố quốc tế. Nữa triệu người đã sống ở đó, và chỉ một vài thành phố trên thế giới có thể tranh đua với sự hùng vĩ, tráng lệ của nó. Thế nhưng, Isfahan đã không chỉ trở thành biểu tượng sáng chói của Ba-Tư, mà còn là những khía cạnh đen tối dưới ách thống trị của ông Abbas.
“Tất cả, từ những trang trí quá thừa mứa qua những đồ sứ trong những đền đài đến những hồ nước và những thảm bông hoa chung quanh những mái hiên hoàng gia, đều mang một dấu ấn của một nghệ thuật không chỉ có tính cách làm hài lòng, mà còn được đề cao cái sức mạnh và sự uy nghi của một vương quốc,” một nhà văn hiện đại đã viết. “Ở đây, chúng ta có thể thông hiểu sự kỳ dị khác thường lẫn lộn giữa cái tàn ác và chủ nghĩa tự do, cái man di mọi rợ và cái lịch thiệp cao sang, cái tráng lệ nguy nga và cái yêu thích nhục dục… đó là tất cả đã tạo dưng thành nền văn minh của người Ba-Tư (Persian).”
Biết được sự tàn bạo của Abbas Shah đối với những đứa con thừa kế ngai vàng của ông, thì chẳng có gì ngạc nhiên khi nước Ba-Tư đã rơi vào tình trạng xáo trộn sau cái chết của ông. Những nước láng giềng bắt đầu hăm he rình rập, và vào năm 1722 những bộ lạc A-Phú-Hãn (Afghan) đã xuống càn quét và giày xéo nước Ba-Tư không thương tiếc, ngay cả trong quyết định cướp phá chính thủ đô Isfahan. Sau cùng, những người A-Phú-Hãn này đã bị tống cổ ra khỏi Ba-Tư bởi người lãnh đạo vĩ đại cuối cùng trong lịch sử Ba-Tư, ông Nadir Shah. Ông ta là một người Sunni Thổ Nhỉ Kỳ (Turk), người đã hành quân tiến chiếm Đề Ly, Ấn Độ (Delhi, India). Một trong những báu vật mà ông ta đã cướp được từ đây là cái ghế Ngai Vàng Con Công với đầy những viên ngọc và đá quý đã được khảm vào một cách tinh vi. Ngai vàng này đã trở thành vật biểu tượng cho hoàng gia Ba-Tư. Ông Nadir đã bị ám sát năm 1747, và sau một thời gian đấu tranh dài dai dẳng gần 50 năm, một triều đại mới đã lên nắm quyền hành, triều đại Qajars.
Xuất xứ của Qajars là một bộ lạc người Thổ Nhỉ Kỳ (Turkic tribe) hùng cứ ở gần khu vực biển Caspian Sea, và họ đã thống trị nước Ba-Tư từ cuối thế kỷ thứ 18 đến năm 1925. Những người vua thối nát ăn đút lót và hối lộ, cùng với những đầu óc nhỏ nhen của họ, mang nặng trách nhiệm cho sự nghèo khổ và lạc hậu của nước Ba-Tư. Ngang bằng với tốc độ tiến triễn ồ ạt mau lẹ của thế giới tân tiến, nước Ba-Tư đã đình trệ và ứ đọng trong nền phát triễn văn minh của đất nước dưới quyền cai trị của triều đại Qajars.
“Trong một quốc gia quá lạc hậu về tiến trình hiến pháp, quá thiếu thốn cơ cấu thủ tục, đạo luật, quy chế và hiến chương, và quá vững chắc trong đường lối rập khuôn theo những tục lệ xa xưa thượng cổ của phương Đông; yếu tố cá nhân, như đã biết trước, là đa phần nằm trong tay người có ưu thế uy quyền và uy lực đăng tăng tiến,” nhà chính khách lão thành Lord Curzon đã viết vào khoảng cuối triều đại Qajar. “Chính phủ của Ba-Tư không là gì hết, ngoài một giai cấp áp dụng chuyên quyền độc đoán bởi một loạt phần tử nằm trong chế độ, với quy mô thang cấp từ cao xuống thấp, từ vua cho đến người trưởng làng của một xã nhỏ nhất.”
Nếu như nước Ba-Tư đã được cai trị bởi một chế độ hùng mạnh và sáng suốt, thì có thể họ đã đẩy lui được những tham vọng của những cường quốc ngoại xâm. Mặc dầu thế, áp lực cũng sẽ rất cao và căng thẳng trong mọi trường hợp. Địa lý đã đặt Ba-Tư vào sự cản trở của hai thế lực đế quốc lớn nhất thời kỳ đó, Anh Quốc và Nga. Khi người Anh nhìn vào nước Ba-Tư, họ thấy một quốc gia đang đứng chặn ngang giữa tuyến đường đến Ấn Độ, một thuộc địa giàu có nhất và quý giá nhất của họ. Còn phần người Nga, họ thấy đây là một cơ hội để được quyền kiểm soát một vùng đất rộng lớn, trống trãi ở biên giới miền nam của nước họ. Sự thật hiển nhiên là nước Ba-Tư đang bị cai trị bởi một quốc vương yếu kém và ích kỹ chỉ tự lo thân, lại càng thêm như trêu vào ý đồ của các đế quốc kia, mà cuối cùng là họ không kềm hãm được. Cả hai đã mau lẹ trám vào cái lỗ hổng quyền lực mà triều đại ngu muội Qajars đã lưu lại.
Những vua chúa của triều đại Qajar đã không có vẻ gì là lo lắng khi nhìn thấy Ba-Tư đang trôi dần vào vị thế nhược tiểu, chư hầu. Hoặc là nếu họ đã có nghĩ đến, thì họ đã quyết định lợi dụng những gì họ có thể làm được, trong một định mệnh được xem là không thể tránh khỏi. Trong một quyết định mà cuối cùng đã đưa ra sự cân nhắc sai lầm nhất, họ đã nghĩ là người dân Ba-Tư lúc nào cũng tuân theo lệnh của người cai trị đặt ra. Nhưng vì những lũng đoạn đồi bại của chính quyền họ, đặc biệt là sự sẳn sàng để cho nước Ba-Tư trợt vào vòng thống trị của những đế quốc ngoại bang, triều đại Qajars đã không còn đồng chí hướng với dân chúng Ba-Tư mà sau rốt là họ đã mất quyền cai trị, quyền farr của họ. Võ trang với nguyên tắc luân lý đạo đức Shiite, cái mà cho phép một người dân bình thường được quyền lật đổ chế độ một chính phủ chuyên quyền, và với những lý tưởng của một thế giới mới đang xuất hiện, dân chúng Ba-Tư đã nỗi dậy trong một lề lối mà tổ tiên ông cha của họ cũng chưa từng bao giờ có được. Những yêu sách của họ cũng đầy kinh ngạc như chính cuộc nỗi dậy đó: Chấm dứt sự thống trị bởi những cường quốc ngoại xâm, và phải có một nghị viện đại diện cho ý muốn quần chúng. Đây là một chương trình cấp tiến nhất từ xưa nay mà người dân Ba-Tư đã hồ hởi ôm ghì nắm chặt. Nó đã viết nên sự lật đổ triều đại Qajar và định nghĩa tất cả những dòng lịch sử tiếp nối của Iran.
Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2009
Thứ Tư, 1 tháng 7, 2009
Random Thoughts on Iran's Democracy
By Alexander Le
Democracy is a way of life. Democracy is a method of solving problems within a sovereign nation. Democracy has to be desired and demanded by the people of a nation. Democracy can not be imposed on or forced upon any government, regime or sovereign nation.
Throughout the process of spreading democracy to the world, the U.S. and other western nations have made numerous dire mistakes on this effort with much ironies and complications. One such mistake, can not be ignored because of its devastating consequences have reverberated to today, is what had done in Iran. The U.S. and Britain with misguided efforts and policies imposed their brand of democracy on Iran via a coup d’état (Operation Ajax/Operation Boot) of Prime Minister Mossadegh in 1953; with one in the name of national security (the Soviet Union threat) and with the other in the name of national interest (Anglo-Iranian Oil Company), respectively.
Our current president is trying to undo past mistakes through unbound approaches, peaceful policies, and open dialogues. Iran always and has been blaming the U.S. and Great Britain for any political unrest in its nation, ever since that staged coup by the CIA and the British Secret Intelligence Service in deposing their only democratic elected and beloved Prime Minister Mossadegh. And, they have legitimate reasons to believe so at the current time. The fact is: no nation in the world ever formed a foreign policy toward Iran, without considerable thoughts of its oil and its strategic location for military and political purposes. President Obama is treading with great care over the course of these new internal conflicts of Iran, and his cautiousness is correctly taken so. The administration doesn’t want to present itself as interfering into Iran’s internal affairs, but on the same token, it also doesn’t want to be seen as lack of interest and leadership. The U.S. is in a sensitive period of relationship rebuilding and past wounds healing with state of Iran. Also, there is the delicate and most important issue of nuclear weapons threat; besides, the wars in Iraq and Afghanistan, the impossible agreements of Israel and Palestine, the stability of world oil supply, the waves of terrorism throughout the world, etc. Peace within the Middle East region (and effectively most of the globe) will be depended on the state of relationship between Iran and the western nations, particularly the U.S.
China is championed in advocating of the so called “democracy-in-stages”. China Prime Minister Deng Xiaoping reportedly told then Secretary of State Henry Kissinger and President Nixon on their first visit to China, back in 1973: Democracy is to be desired and it requires time to grow, just as a tree needs time to take roots. In due time, this tree will be firmed and grown strong without the need of daily attention, given favorable conditions.
Democracy in the U.S. did take over 230 years to grow and still growing with various difficulties along with adapting to the ever-changing society, demographics and problematic issues. The time of women couldn't vote and the time that blacks could not sit in the front of public transportation such as buses and trains are still very freshly remembered in our own mind and time.
Therefore… China, Iran and other non-democratic countries will grow their own brand of democracy at its own pace and on its own will. The U.S. brand of democracy can not be imposed on other nations, since each nation is with different culture, history and population. The U.S. was allowed to struggle and grow into its own brand of democracy, without any interference from other nations; the same can be and should be expected from the U.S. government for other nations around the globe.
The situation in Iran at the moment is a much delicate and complicated one with no real understanding from the west. The fact is, we have no expert authorities on Iran... at least, the current Iran with its Islamic regime versus its young population’s desires to break the mold in craving for a new democracy in the nation’s government. We have no diplomatic relation, no intelligence agents, and no pertinent apparatuses in this nation for over 30 years to really understand the current situation within, and to forecast future events to come.
To be successful at regime change and execution of coup d’état, the oppositionists have to own and have complete control over the crowds, the mobs, the demonstrators and command these groups at will; and the military has to be on their side. Radio, television, news print media, and internet social websites also have to be in favor of the cause or in control by the oppositional force. It has seemed that this is not completely the case here in recent Iranians uprising.
To have a successful change of regime, the change must be from the top down, in the case of most dictatorship governments. The Cold War had ended partly by the challenge of change from then-Premier Gorbachev. The successful change in the “open door” policy of China was enacted by Prime Minister Deng Xiaopeng even with various challenges from the opposition old hard-liners. And, such successes were realized because of support from the top down and the military. Tiananmen Square ill-fated outcome was caused by its change derived from the bottom up, without support from the top government officials and the key leaders of the military.
The policy of "Separation of State and Religion" always needs to be observed in any democratic government and society for the system to operate in a most effective manner. No country can rise to its full potential without the separation of these two entities within its political system. Iran is of no exception. Its potential can not be fully realized with its outdated laws and rules (based on wrongful interpretation of the Koran) over its women and citizens who are bound and shackled by outrageous misogynistic ideas and traditions that effectively cripple the progress of a modern society. As long as the Islamic regime in Iran, and the rest of the Arab world, continuing down this path, their societies will unfortunately be wallowing in grief and despair, violence and tyranny. That said, it's still an impossible complete execution of policy in reality. All government officials in a democratic society need votes. All votes come from citizens... and most citizens do have some kind of affiliation with a religious entity... and this entity does voice itself in a political way to exert its influences and favors over the politicians within its own causes. And, at the ultimate end… a majority of politicians are influenced by these religious organizations while seeking for the number of votes they need to win an election. Organized religions should be banned from politics, and vice versa. No one can save your soul, except yourself. No one can vote for you, except with your own will and a strong conviction of equality, liberty and justice.
In Iran and other countries with a totalitarian regime or dictatorial government, the real power is not in the “Supreme Leader”, but in the people that allowing him to be in such power and providing him with necessary conditions to stay in such position. To gain real changes and to lead the path of a future functional democratic political system, Iranians have to be more forceful in their demands and with organized opposition groups all united to outmaneuver all foreseen political moves and strangleholds of the current regime in order for democracy to flourish in this nation.
Poem by Simin Behbahani
If the flames of anger rise any higher in this land
Your name on your tombstone will be covered with dirt.
You have become a babbling loudmouth.
Your insolent ranting, something to joke about.
The lies you have found, you have woven together.
The rope you have crafted, you will find around your neck.
Pride has swollen your head, your faith has grown blind.
The elephant that falls will not rise.
Stop this extravagance, this reckless throwing of my country to the wind.
The grim-faced rising cloud will grovel at the swamp's feet.
Stop this screaming, mayhem, and blood shed.
Stop doing what makes God's creatures mourn with tears.
My curses will not be upon you, as in their fulfillment.
My enemies' afflictions also cause me pain.
You may wish to have me burned, or decide to stone me.
But in your hand match or stone will lose their power to harm me.
Translated by Kaveh Safa and Farzaneh Milani
Posted by Tom Hasani (Tomy) Friday, June 26, 2009, on NPR.org
Democracy is a way of life. Democracy is a method of solving problems within a sovereign nation. Democracy has to be desired and demanded by the people of a nation. Democracy can not be imposed on or forced upon any government, regime or sovereign nation.
Throughout the process of spreading democracy to the world, the U.S. and other western nations have made numerous dire mistakes on this effort with much ironies and complications. One such mistake, can not be ignored because of its devastating consequences have reverberated to today, is what had done in Iran. The U.S. and Britain with misguided efforts and policies imposed their brand of democracy on Iran via a coup d’état (Operation Ajax/Operation Boot) of Prime Minister Mossadegh in 1953; with one in the name of national security (the Soviet Union threat) and with the other in the name of national interest (Anglo-Iranian Oil Company), respectively.
Our current president is trying to undo past mistakes through unbound approaches, peaceful policies, and open dialogues. Iran always and has been blaming the U.S. and Great Britain for any political unrest in its nation, ever since that staged coup by the CIA and the British Secret Intelligence Service in deposing their only democratic elected and beloved Prime Minister Mossadegh. And, they have legitimate reasons to believe so at the current time. The fact is: no nation in the world ever formed a foreign policy toward Iran, without considerable thoughts of its oil and its strategic location for military and political purposes. President Obama is treading with great care over the course of these new internal conflicts of Iran, and his cautiousness is correctly taken so. The administration doesn’t want to present itself as interfering into Iran’s internal affairs, but on the same token, it also doesn’t want to be seen as lack of interest and leadership. The U.S. is in a sensitive period of relationship rebuilding and past wounds healing with state of Iran. Also, there is the delicate and most important issue of nuclear weapons threat; besides, the wars in Iraq and Afghanistan, the impossible agreements of Israel and Palestine, the stability of world oil supply, the waves of terrorism throughout the world, etc. Peace within the Middle East region (and effectively most of the globe) will be depended on the state of relationship between Iran and the western nations, particularly the U.S.
China is championed in advocating of the so called “democracy-in-stages”. China Prime Minister Deng Xiaoping reportedly told then Secretary of State Henry Kissinger and President Nixon on their first visit to China, back in 1973: Democracy is to be desired and it requires time to grow, just as a tree needs time to take roots. In due time, this tree will be firmed and grown strong without the need of daily attention, given favorable conditions.
Democracy in the U.S. did take over 230 years to grow and still growing with various difficulties along with adapting to the ever-changing society, demographics and problematic issues. The time of women couldn't vote and the time that blacks could not sit in the front of public transportation such as buses and trains are still very freshly remembered in our own mind and time.
Therefore… China, Iran and other non-democratic countries will grow their own brand of democracy at its own pace and on its own will. The U.S. brand of democracy can not be imposed on other nations, since each nation is with different culture, history and population. The U.S. was allowed to struggle and grow into its own brand of democracy, without any interference from other nations; the same can be and should be expected from the U.S. government for other nations around the globe.
The situation in Iran at the moment is a much delicate and complicated one with no real understanding from the west. The fact is, we have no expert authorities on Iran... at least, the current Iran with its Islamic regime versus its young population’s desires to break the mold in craving for a new democracy in the nation’s government. We have no diplomatic relation, no intelligence agents, and no pertinent apparatuses in this nation for over 30 years to really understand the current situation within, and to forecast future events to come.
To be successful at regime change and execution of coup d’état, the oppositionists have to own and have complete control over the crowds, the mobs, the demonstrators and command these groups at will; and the military has to be on their side. Radio, television, news print media, and internet social websites also have to be in favor of the cause or in control by the oppositional force. It has seemed that this is not completely the case here in recent Iranians uprising.
To have a successful change of regime, the change must be from the top down, in the case of most dictatorship governments. The Cold War had ended partly by the challenge of change from then-Premier Gorbachev. The successful change in the “open door” policy of China was enacted by Prime Minister Deng Xiaopeng even with various challenges from the opposition old hard-liners. And, such successes were realized because of support from the top down and the military. Tiananmen Square ill-fated outcome was caused by its change derived from the bottom up, without support from the top government officials and the key leaders of the military.
The policy of "Separation of State and Religion" always needs to be observed in any democratic government and society for the system to operate in a most effective manner. No country can rise to its full potential without the separation of these two entities within its political system. Iran is of no exception. Its potential can not be fully realized with its outdated laws and rules (based on wrongful interpretation of the Koran) over its women and citizens who are bound and shackled by outrageous misogynistic ideas and traditions that effectively cripple the progress of a modern society. As long as the Islamic regime in Iran, and the rest of the Arab world, continuing down this path, their societies will unfortunately be wallowing in grief and despair, violence and tyranny. That said, it's still an impossible complete execution of policy in reality. All government officials in a democratic society need votes. All votes come from citizens... and most citizens do have some kind of affiliation with a religious entity... and this entity does voice itself in a political way to exert its influences and favors over the politicians within its own causes. And, at the ultimate end… a majority of politicians are influenced by these religious organizations while seeking for the number of votes they need to win an election. Organized religions should be banned from politics, and vice versa. No one can save your soul, except yourself. No one can vote for you, except with your own will and a strong conviction of equality, liberty and justice.
In Iran and other countries with a totalitarian regime or dictatorial government, the real power is not in the “Supreme Leader”, but in the people that allowing him to be in such power and providing him with necessary conditions to stay in such position. To gain real changes and to lead the path of a future functional democratic political system, Iranians have to be more forceful in their demands and with organized opposition groups all united to outmaneuver all foreseen political moves and strangleholds of the current regime in order for democracy to flourish in this nation.
Poem by Simin Behbahani
If the flames of anger rise any higher in this land
Your name on your tombstone will be covered with dirt.
You have become a babbling loudmouth.
Your insolent ranting, something to joke about.
The lies you have found, you have woven together.
The rope you have crafted, you will find around your neck.
Pride has swollen your head, your faith has grown blind.
The elephant that falls will not rise.
Stop this extravagance, this reckless throwing of my country to the wind.
The grim-faced rising cloud will grovel at the swamp's feet.
Stop this screaming, mayhem, and blood shed.
Stop doing what makes God's creatures mourn with tears.
My curses will not be upon you, as in their fulfillment.
My enemies' afflictions also cause me pain.
You may wish to have me burned, or decide to stone me.
But in your hand match or stone will lose their power to harm me.
Translated by Kaveh Safa and Farzaneh Milani
Posted by Tom Hasani (Tomy) Friday, June 26, 2009, on NPR.org
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)