Hiển thị các bài đăng có nhãn A Phú Hãn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn A Phú Hãn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2009

Chương 2: Nguyền Rủa Định Mệnh Này

Chapter 2: Curse This Fate
All the Shah's Men, by Stephen Kinzer
(Translated by Alexander Le)


Trỗi dậy lên một cách ấn tượng từ vùng sa mạc miền nam của Ba-Tư, với những dãy núi xa xa tạo nên sự uy nghi trong cảnh trí, thành Persepolis đỗ nát một cách ngoạn mục là chứng cớ cho sự huy hoàng một thời của vương quốc Ba-Tư (Persia). Nơi đây đã từng là một thủ đô của lễ nghi và linh hồn của một đế chế mênh mông bao la, được xây dựng bởi Cyrus, Darius, và Xerxes, những đấng minh quân tài giỏi phi thường mà danh tiếng vẫn còn vang dội trong lịch sử. Tượng những con bò có cánh khổng lồ canh gác “Cổng Của Mọi Quốc Gia”, mà qua nó những hoàng tử của những bang quốc chư hầu phải một năm một lần vượt qua để tỏ lòng thần phục với những chủ nhân Ba-Tư của họ. Apadana hay là “Hội Trường Bái Kiến” to lớn vĩ đại, nơi những ông hoàng tử này cùng nhau quỳ trước cái chủ quyền đã mất của họ, có chiều dài khoảng 3 sân banh bóng bầu dục (football Mỹ - 300 yards = 275 mét). Mái nóc của nó được giữ vững bằng 36 trụ chống giữ cao ngất, mà một vài trụ vẫn còn tồn tại đến hiện nay. Hai cầu thang đồ sộ dẫn lên đến đại sảnh được trang trí với những thủ công điêu khắc chạm trổ chi tiết phức tạp, miêu tả nghi lễ thần phục hằng nằm, với thời điểm được chọn là ngày “xuân phân” (vernal equinox - bắt đầu của mùa xuân). Ngày hôm nay, tất cả đưa ra cho thấy một hình ảnh sống động của những hoàng đế Ba-Tư đã một thời hoàn toàn thống trị những mảnh đất mầu mở nhất trên trái đất.

Những nghệ thuật điêu khắc trưng bày hình ảnh những vua chúa của các nước chư hầu sắp hàng đến triều cống đấng lãnh đạo tối cao của họ, mỗi người mang theo những món quà tượng trưng cho sự giàu có của xứ sở họ. Những nhà khảo cổ đã tìm được cách để định dạng ra hầu hết những lễ vật này, và ngay những cái tên của những nền văn hoá này đã gợi lên sự dồi dào của cải vào thời cổ xưa này. Những kẻ hiếu chiến Elamites, sống ở miền đông của giòng sông Tigris, mang một con sư tử để tượng trưng cho bản chất hung bạo của họ. Arachosians từ vùng Trung Á (Central Asia) dâng hiến lạc đà và những bộ lông thú đắc giá. Armenians với một con ngựa và một cái bình với kiến trúc tinh vi sắc sảo. Ethopians với một con hưu cao cổ và một cái ngà voi. Somalis với một con linh dương và một xe ngựa đua. Thracians với những cây lao và những tấm khiên; và Ionians với những ống vải và dĩa kiểu đồ gốm. Người Ả-Rập (Arabs) dẫn một con lạc đà, Assyrians dẫn một con bò đực, người Ấn Độ (Indians) dẫn một con lừa chất đầy với những rỗ rá đan thủ công. Tất cả những vật triều cống này được đặt trước mặt đấng Hoàng Đế của tất cả vị vua; môt quốc vương với sự ngự trị trên thế lực trãi dài lãnh thổ của Ba-Tư đến bờ ranh của thế giới được biết đến thời đó.

Nhiều quốc gia trong vùng Trung Đông là sản phẩm của nhân tạo. Những người thực dân Âu Châu đã vẽ những đường biên giới của quốc gia họ vào thế kỷ thứ 19 hay 20, thường thì với rất ít quan tâm đến phong tục và lịch sử địa phương, và những nhà lãnh đạo của họ phải chế ra những chuyện thần thoại kỳ dị lạ lùng để mang lại dân tộc tính cho quốc dân của họ. Nhưng đối với Ba-tư thì ngược lại. Đây là một trong những quốc gia lâu đời nhất trên thế giới, người thừa kế của những phong tục tập quán xa xôi đến cả nhiều ngàn năm, đến thời kỳ mà những người chinh phục kéo dài quyền trị vì của họ xuyên lục địa; thi sĩ và nghệ sĩ đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật với vẽ đẹp thanh nhã; và một trong những tục lệ, nghi thức tôn giáo dị biệt trên thế giới đã mọc rễ và đâm bông. Ngay cả trong thời cận đại, khi đã bị đánh dấu bởi những giai đoạn dài với tình trạng vô chính phủ, đàn áp, bất công, và chịu đựng, người Ba-Tư vẫn có niềm cảm hứng nồng nhiệt tạo nên bởi những di sản dân tộc của họ.

Nhiều yếu tố luân lưu trong dòng lịch sử Ba-Tư và mang đến sự thành hình của nó ngày nay. Một là sự ra sức liên tục (và thường là vô hiệu quả) trong việc tìm một giãi pháp tổng hợp giữa Hồi Giáo - tôn giáo mà đã được đặt lên bởi những người chinh phục Ả-Rập - và những phong tục cổ truyền phong phú trước thời Hồi Giáo. Một yếu tố khác, do được kích động bởi phong tục Hồi Giáo Shiite mà phần đông người Ba-Tư tin theo, là sự khát khao có được một cấp lãnh đạo công bằng chính đáng (mà họ được hưởng vô cùng ít ỏi). Yếu tố thứ ba, cũng do sự mài dùi niềm tin tưởng theo giáo phái Shiites, là một cách nhìn bi thảm về cuộc sống với nguồn gốc của tri giác là sự hy sinh vì tôn giáo và vì sự đau khổ chung của cộng đồng. Và yếu tố cuối cùng là, vì từ thời thượng cổ đến nay Ba-Tư luôn là một mục tiêu cho những nước ngoại xâm, nạn nhân của một vị trí địa lý trấn đóng trên một trong những con đường thông thương lớn nhất trên thế giới, và cùng lúc nằm trên một đại dương dầu hoả. Đó là những lý do làm cho họ phải luôn vùng vẫy tranh đấu để sống còn với những cường quốc ngoại bang luôn trong tình thế uy hiếp và chiếm đóng họ. Tất cả những trạng thái căng thẳng này đã cùng nhau kết hợp vào giữa thế kỷ thứ 20, tạo dựng và rồi sau đó triệt tiêu một nhân vật vĩ đại: Mohammad Mossadegh.

Những người di trú từ Trung Á và tiểu lục địa Ấn Độ đã bắt đầu đặt chân đến vùng đất mà bây giờ gọi là Ba-Tư vào khoảng bốn ngàn năm về trước. Họ bị đẩy đi bởi sự phối hợp giữa cái cạn kiệt nguồn tài nguyên và những cướp bóc của các bộ lạc hung tàn từ miền bắc và đông. Giữa trong đám người tránh nạn này là dân Aryans, và từ đó mà tên Iran (Ba-Tư) đã thành hình. Hoàng Đế Cyrus là người đầu tiên đoàn kết những đám dân di trú này. Ông là một trong những nhân vật của lịch sử có thiên tài nhìn xa thấy rộng, và là một nhân vật đầu tiên mang đến ý tưởng đặt một đế quốc trên vùng lãnh thổ mà được biết đến là Pars (sau này là Fars).

Sau khi lên nắm quyền hành vào năm 559 B.C., Cyrus khởi đầu một chiến dịch mà kết quả là tất cả những nhà lãnh đạo trên vùng cao nguyên mênh mông của Ba-Tư đều được đặt dưới sự thống trị của chính ông. Vài nơi ông ta đã chinh phục, nhưng đa phần là ông ta đã thắng bằng cách thuyết phục và những thỏa hiệp. Ngày nay, không những ông được nhớ đến với những cuộc chinh phục lừng lẩy, nhưng cùng với lối xử sự hòa nhã với những thần dân chư hầu dưới quyền thống trị của ông. Ông ta sâu sắc hiểu rằng, đó là cách chắc chăn nhất để xây dựng một đế quốc, hơn với những cách bạo động như đàn áp, khủng bố, và tàn sát.

Vào năm 547, Cyrus đã tiến quân vào Asia Minor (cũng biết đến với tên Anatolia, một bán đảo miền tây Á Châu nằm giữa Hắc Hải – Black Sea – và biển Mediterranean) và bắt chiếm thủ đô uy nghi Lydian của Sardis. Bảy năm sau đó, ông khuất phục quyền lực còn lại trong khu vực, Babylon. Qua những thập niên tiếp theo, ông và những người nối ngôi ông đã mang lại nhiều chiến thắng, gồm cả một trận bởi Xerxes mà Macedon, Thermopylae, và Athens đã bị chiếm giữ bởi một đoàn quân 180,000 binh sĩ, một đoàn quân với quy mô lớn hơn xa tất cả các đoàn quân mà Âu Châu đã thấy từ trước đến thời điểm này. Triều đại này được biết đến với tên Achaemenians, đã xây dựng một đế quốc vĩ đại nhất trong thời đại của nó. Đến 500 B.C. nó đã ôm vòng miền tây Mediterranean từ Hy Lạp (Greece) xuyên qua Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) hiện đại, Lebanon, Do Thái, Ai Cập, Lybia và kéo dài phương đông qua Caucasus đến những cỏi bờ của Indus. Cyrus gọi nó là Persia vì nó đã nảy nở từ căn cứ của ông ta ở Pars.

Những hoàng đế Achaemenians nỗi tiếng là khoan dung và sẵn sàng đón nhận mọi đường lối dẫn đến sự sống, cùng các quan điểm chính trị. Bản tính đó đã phát sinh từ một phần do mối liên hệ của họ với đạo lý Zoroastrian; một đạo lý buộc tất cả mỗi con người đều mang một trách nhiệm thiêng liêng là phải dốc sức tiến đến thiết lập luật pháp xã hội công bằng trên toàn cầu. Zoroastrians tin nhân loại đang bị khóa chặt trong một sự đấu tranh triền miên giữa thiện và ác. Đạo lý của họ đã được cho là tôn giáo khám phá đầu tiên thuyết pháp về việc con người phải đối diện với sự xét xử sau khi chết, và mỗi linh hồn sẽ phải mãi mãi ở thiên đàng hay địa ngục. Theo nhận xét của nó, Thượng Đế sẽ xét xử theo cách sống của mỗi người, đo lường bằng những ý nghĩ, những ngôn từ, và những hành vi của họ. Nhà tiên tri Zoroaster, sau này được biết bởi người Âu Châu với cái tên Zarathustra, đã sống vào khoảng thời gian giữa thế kỹ thứ 10 và 11 B.C. trong khu vực mà hiện nay là miền bắc của Ba-Tư, đã thuyết pháp điều tín ngưỡng này sau khi tiếp nhận một loạt những điềm báo tiên tri. Chủ nghĩa Zoroastrianism đã có ảnh hưởng sâu sắc trong nền lịch sử Ba-Tư, không chỉ vì Cyrus đã dùng nó trong những chiến dịch thành công táo bạo cho việc xây dựng đế quốc, mà còn bởi vì nó đã chiếm trọn vẹn trái tim của những người tin tưởng vào nó qua một đoạn thời gian dài trong nhiều thế kỷ.

Tôn giáo Zoroastrian dẫn dạy người Ba-Tư là mỗi công dân đều mang một trọng trách phải soi sáng cấp lãnh đạo; và bổn phận của kẻ thần dân không chỉ đơn thuần là tuân theo lệnh của các đấng vua chúa, mà còn phải nỗi dậy chống lại những vị vua chúa ác độc hay những bạo chúa. Những nhà lãnh đạo được xem như là những đấng đại diện cho Thượng Đế trên đời phàm tục, nhưng họ chỉ đáng được trung thành khi họ có được farr, đó một loại phúc lành thiêng liêng mà họ chỉ có được qua phương cách làm việc hợp đạo đức và luân lý. Để tụng niệm cho phúc lành này, hằng bao nhiêu thế hệ của những người lãnh đạo Ba-Tư đã viếng những đền đài của tôn giáo Zoroastrian, nơi mà những ngọn lửa thiêng được đốt liên tục để tượng trưng cho sự quan trọng của luôn luôn thận trọng cảnh giác chống lại bất công, và những việc trái với đạo lý luân thường.

Cyrus và những vì vua khác trong dòng tộc của ông đã thắt chặt đế quốc của họ lại với đường xá, cầu cống, một loại tiền đồng nhất, một phương pháp thu thuế hiệu quả, và một dịch vụ bưu tín đường xa đầu tiên trên thế giới. Nhưng cuối cùng và chắc hẳn không tránh khỏi, dòng thuỷ triều của lịch sử đã xoay ngược chống lại họ. Đế quốc của họ đã bắt đầu bị lung lay sau khi Darius, người lãnh đạo vĩ đại cuối cùng của Ba-Tư, đã thua trong trận chiến sống còn “Battle of Marathon” ( Trận Chiến Marathon) vào năm 490 B.C. Người đưa ra đòn kết liểu này, không ai hơn được, là kẻ chinh phục Alexander, người đã tiến vào Ba-Tư năm 334 B.C., mà trong một cơn thịnh nộ đã cướp phá và phóng hỏa Persepolis.

Trong mười thế kỷ sau đó, qua những giai đoạn thống trị bởi ba triều đại, dân Ba-Tư đã nuôi dưỡng và tăng đậm thêm những cảm nghĩ sâu sắc của họ về niềm tự hào và tính cao thượng. Họ tăng trưởng thịnh vượng bằng hội nhập đồng hoá với những ảnh hưởng từ các vùng đất chung quanh họ, đặc biệt là từ Hy Lạp, Ai Cập, và Ấn Độ. Họ đã nắn tạo lại những ý tưởng này trong khuôn khổ của niềm tin Zoroastrian trong riêng dân tộc họ. Vào thế kỷ thứ 3 A.D, họ đã bắt đầu trở lại trên đỉnh cao hùng mạnh của thế giới với một phạm vi rộng lớn để có thể nhớ đến thời huy hoàng của các hoàng đế trước, bắt chiếm Antioch, Jerusalem và Alexandria, rồi tiến chiếm những bức tường thành của Constantinople. Vào năm 626, quân đội Ba-Tư đã chịu thua ngược lại dưới tay người Byzantines, nhưng cuộc chiến bại vĩ đại vẫn chưa đến. Một vài năm sau, một đội quân đã trỗi dậy từ vùng bán đảo cằn cổi Ả Rập và họ đã quay sang nước Ba-Tư. Những người Ả Rập này đã đến không chỉ võ trang với những vũ khí thường lệ của chiến tranh, mà còn với một tôn giáo mới lạ, đạo Hồi Giáo.

Cuộc xâm lăng bởi những người Ả Rập, mà đối với những người dân trí thức Ba-Tư đã xem họ không hơn là một lũ người man rợ, đã là một điểm quyết định thay đổi chiều hướng của lịch sử quốc gia Ba-Tư. Định mệnh của Ba-Tư đã đi song song với nhiều đế quốc. Quân lực của họ đã bị hao mòn bởi những cuộc trường chinh, và những người lãnh đạo của họ đã bị trượt ra khỏi cái mà những đạo sĩ Zoroastrian gọi là vương quốc của ánh sáng, mà đang đi vào cái bóng tối u ám, và những đạo sĩ này đã từ bỏ những công cuộc giảng đạo trong dân chúng. Người dân ngã vào nghèo khó vì chính quyền tham lam đặt ra những thuế má không ngừng tăng. Hành động bạo quyền chuyên chế đã xé tan hợp đồng giữa xã hội và kẻ thống trị và định luật bởi học thuyết chủ nghĩa Zoroastrian nắm giữ cái nền tảng của đời sống nề nếp có tổ chức. Dựa trên những tiêu chuẩn cho cả chính trị lẫn tôn giáo, triều đại cuối cùng của thời đại tiền Hồi Giáo - triều đại Sassanians - đã hoàn toàn mất quyền thống trị. Theo lối suy xét một cách lạnh lùng của lịch sử thì nó phải bị hủy diệt bởi những người đang nỗi dậy với niềm tin bốc cháy mãnh liệt trong những cấp lãnh đạo của họ, trong những chính nghĩa của họ, và trong những đức tin của họ.

Quyền lực của Sassanian xoay vòng ở trung tâm Ctesiphon, một thủ đô giàu sang vương giã của Mesopotamia. Đây không phải là một thành phố với những hàng trụ trang nghiêm oai vệ như Persepolis, mà là một nơi được tắm trong những thừa mứa hoang phí quá độ. Cung điện của họ được trang trí với những sưu tập ngọc đá quý như trong truyện thần thoại đến khó tin, và được canh gác bởi những khối tượng bằng vàng và bạc đặc ruột. Điểm trọng tâm là ngôi đền tiếp kiến có nhiều phòng ốc của nhà vua, trong đó điểm đặc trưng là một tấm thảm lụa chín mươi bộ Anh vuông (90 square-foot ≈ 8.36 mét vuông) miêu tả một vườn hoa, biểu tượng cho sự giàu sang và uy quyền của đế quốc này. Những viên hồng ngọc, những viên ngọc trai, và những viên kim cương đã được thêu vào với chỉ bằng vàng. Khi những người chinh phục Ả Rập tấn chiếm Ctesiphon vào năm 638, họ đã cướp phá cung điện và gửi tấm thảm lụa này về Mecca. Ở đây, những người lãnh đạo Hồi Giáo đã ra lệnh cắt nó thành nhiều mãnh để chứng tỏ cái lòng kinh miệt của họ đối với những cái giàu sang trên hạ giới. Họ đã hủy diệt vô số di vật bảo tàng, gồm cả nguyên thư viện hoàng gia. Trong một bài than van ai oán bi thảm của nhà thi sĩ Ferdowsi, người Ba-Tư vào thế ký thứ mười, đã rên rỉ: “Nguyền rủa thế giới này, nguyền rủa thời đại này, nguyền rủa định mệnh này… Những kẻ mọi rợ Ả Rập đã đến và bắt buộc tôi phải trở thành người Hồi Giáo!”

Sau đó cũng trong bản thiên sử thi này, bài Shahnameh, một bài dài hơn gấp bốn lần bài Iliad và tốn mất ba mươi lăm năm để sáng tác, Ferdowsi miêu tả một cách linh động về ông Rustam, người chỉ huy Ba-Tư khi bị bại trận đã rên rỉ với những tai họa ông đã nhìn thấy trước:


“Ôi! Ba-Tư! Những vì vua đã tô điểm cho đất nước
Với công lý, công bằng, và tính hào phóng, những người đã tuyên dương đất nước,
Với phù hoa tráng lệ và những rực rỡ huy hoàng, đã đi đâu?
Từ ngày mà những kẻ mọi rợ, dã man, thô lỗ
Bedouin Ả Rập đem bán con gái của vua trên hè phố
Và trong những chợ bán bò
Đất nước đã không thấy được một ngày có ánh sáng,
Và phải mãi nằm trong cảnh tối tăm mù mịt.”



Vào thời điểm cuộc chinh phục của người Ả Rập, người dân Ba-Tư đã có nhiều kinh nghiệm với phương cách hòa hợp theo những văn hóa ngoại quốc, và khi nào họ làm thế, họ lại uốn nắn những văn hóa này theo ý họ, và nhận lấy điều này trong lúc kháng cự lại điều kia. Thế nên đến khi họ bị buộc phải theo đạo Hồi Giáo, họ không có sự lựa chọn mà phải chấp nhận ông Mohammad là đấng tiên tri của Thượng Đế, và cuốn kinh Koran là những từ ngữ từ Thượng Đế. Nhưng qua một thời gian của vài thế kỷ, họ đặt ra kiểu giải thích đạo Hồi Giáo một cách khác lạ với những người Ả Rập xâm chiếm lãnh thổ họ. Cách giãi thích này, gọi là Shiism, dựa trên một đặc điểm đọc trong lịch sử của đạo Hồi Giáo, và nó có một cách ảnh hưởng tài tình về cách dùng đạo Hồi Giáo để củng cố những niềm tin tưởng của Ba-Tư từ ngàn xưa.

Vào khoảng 90 phần trăm dân số của một tỷ người đạo Hồi trên thế giới ngày nay là theo phong tục truyền thống Sunni. Trong những số còn lại, đa phần là người Shiites, và đa số họ là người Ba-Tư. Sự chia rẽ của hai nhóm này bắt đầu từ cách suy diễn khác nhau về ai đáng được nối ngôi nhà tiên tri Mohammad sau khi ông ta từ trần vào năm 632, trong tư cách giáo chủ tối cao (caliph), hay là người lãnh đạo của thế giới Hồi Giáo. Những người Shiites thì tin rằng, người hợp pháp được nối ngôi là Ali, một người anh em họ của ông Mohammad mà ông ta đã nuôi nấng từ nhỏ, và cũng đã cưới một trong những cô con gái của ông ta. Ali là một trong những người ông Mohammad đã đọc những lời tiên tri thiên khải cho chép xuống mà sau này trở thành cuốn kinh thánh Koran, và chính Ali cũng đã một lần nằm ngũ trong giường ông Mohammad làm con mồi để phá vỡ một cuộc mưu toan ám sát ông Mohammad. Nhưng một người khác đã được chọn làm giáo chủ, và không lâu sau đó ông Ali đã nằm trong tư thế đối lập. Ông ta chỉ trích tổ chức tôn giáo đang mưu cầu đeo đuổi theo uy quyền trên thế gian trần tục, và làm loãng đi sự tinh khiết của những di sản về tâm linh. Sự bất mãn về kinh tế đã kéo nhiều người theo phe ông, và cuối cùng sự xung đột đã mang đến bạo động.

Ali đã bị bỏ qua thêm hai lần nữa khi những người giáo chủ sau chết, và ông ta đã hiến thân mình trong việc giảng dạy một chủ thuyết của tôn thờ đạo giáo và công lý xã hội mà đã mang đến cho ông rất nhiều người theo, đặc biệt là những người trong hạ tầng giai cấp. Cuối cùng ông đã thắng được ngôi vị giáo chủ tối cao vào năm 656, nhưng cuộc xung đột chỉ tăng thêm cường độ, và trong vòng ngắn hơn 5 năm sau đó, ông đã bị ám sát trong lúc đang cầu nguyện ở một ngôi đền thờ ở Kufa. Đó là một làng đồn trú quân Mesopotamian đang như một vạc dầu sôi bỏng với nhiều mối xung đột tôn giáo. Theo truyền thuyết, ông ta biết là mình sẽ bị ám sát ngày hôm đó, nhưng nhất quyết không chạy trốn vì “không ai có thể chặn đứng sự chết”. Sau khi bị đâm, ông đã la lên, “Ô! Thượng Đế ơi, con quá được may mắn!”

Chiếc áo choàng chống đối sau đó được trao cho con của Ali, ông Hussein, người đã bị giết chết trong khi dẫn bảy mươi hai người tông đồ chống chọi lại với một quân đội cả vài ngàn trong một cuộc nỗi dậy kháng chiến trong tuyệt vọng ở Karbala vào năm 680. Sau đó, nhất quyết phải ém nhẹm truyền thuyết về Hussein, những nhân vật trong chính quyền đã ra lệnh bắt giết hầu hết người trong gia đình của ông. Thi thể của ông đã bị giày xéo trong bùn lầy và thủ cấp của ông đã được đưa về Damacus, nơi mà những người Shiites tin rằng nó vẫn tiếp tục tụng kinh Koran ngay trong lúc đấng giáo chủ đập nó với một cây roi. Tiếp tục kể về truyền thuyết này và những truyềnt thuyết khác về ông Hussein, “chúa tể của tất cả liệt sĩ chết vì đạo”, là sự kích thích cực điểm của những cảm xúc mãnh liệt lan tỏa ra Qom và những thành phố thiêng liêng trong nước Ba-Tư, vào ngày giỗ của ông hằng năm.

Sự nắm lấy cái chết trong một sứ mệnh thiêng liêng của tôn giáo, đã thành hình một tâm linh chung cho người dân Ba-Tư. Đến viếng thăm Qom trong thời điểm để tang tưởng nhớ cái chết vì đạo của ông Ali và Hussein, là phải bị quay cuồng trong những làn sóng cảm xúc quá mãnh liệt mà người ngoài khó hiểu được. Những đám rước diễn hành với đàn ông và con trai trong những y phục màu đen di chuyển chậm từng bước, như đang trong thế giới xuất thần, dẫn đến trước cổng của ngôi đền thờ chính. Trong lúc này, họ cùng nhau tụng những câu thơ điếu táng rền rỉ với những lời bi thảm ai oán, và họ tự quất mình với những roi có bịt đầu sắt cho đến khi vai và lưng họ chảy máu thành dòng. Trước những cửa hàng của các đền đài, những ông cố đạo nhắc lại câu chuyện bi thãm này với một cảm xúc mà không lâu sau khi họ bắt đầu, những tín đồ đã ngã nằm sóng xoãi với nỗi thương tiếc, khóc lóc không nén được, như là một chuyện bi kịch đau khổ tuyệt cùng của cá nhân họ, đã đè ép nát họ. Cái khung cảnh xác thật đầy ngoạn mục này chứng tỏ cho sự thành công của người Ba-Tư Shiites trong việc thành hình nền tảng giáo lý trong phong tục cổ truyền Hồi Giáo, nhưng hoàn toàn riêng biệt theo phong tục lề lối địa phương.

Người Sunnis không xem hai cái chết bất đắc kỳ tử của ông Ali và Hussein là quá quan trọng; nhưng đối với người Shiites, những người mang danh từ thành ngữ Shi’at-Ali, hay là “Những tín đồ của Ali”, đó là những sự kiện tai biến vô cùng vĩ đại. Đối với họ, ông Ali và Hussein biểu tượng cho cả hai sự huyền bí tâm linh đặc trưng của đạo Hồi Giáo nguyên thủy, và đời sống tự nguyện hy sinh mà một tín đồ Hồi Giáo thuần khiết buộc phải noi theo. Theo lối nhìn này, nắn tạo bởi truyền thống Zoroastrian, cả hai người anh hùng đã chống lại một tổ chức quyền lực đã trở thành thối nát đồi bại, và vì thế đã mất hết farr. Họ tin tưởng họ đã hy sinh, như một kẻ ngoan đạo phải làm, trên bàn thờ của điều ác và tội lỗi. Bằng cách làm như thế, họ đã đi theo đường lối mà đến nay vẫn còn nắn tạo ý thức của người dân Ba-Tư. Họ đã truyền lại cho người Shiites đời sau một truyền thuyết của tôn giáo với bầu nhiệt huyết và một sự bằng lòng; ngay cả sự hăng hái tóm lấy cái chết vì đạo ở trong tay những kẻ thù của Thượng Đế. Ông Ali vẫn tồn tại là một linh hồn hoàn hảo nhất và một người lãnh đạo sáng suốt nhất đã từng sống trên thế gian, ngoại trừ chính đấng tiên tri. Những tín đồ Shiites vẫn còn mãi mê nghiên cứu và nghiền ngẫm những bài thuyết giảng của ông và học thuộc lòng hàng ngàn câu tục ngữ, cách ngôn ông ta đã lưu lại. Ông Hussein là hiện thân của hy sinh cá nhân, một định mệnh không thể tránh được cho tât cả những ai thật lòng yêu thương Hồi Giáo và nhân loại. Sự việc tử đạo của ông ta đã được cho là có nhiều ý nghĩa đại đồng hơn là của ông Ali vì nó đã được hành xử bởi nhiều binh lính chính phủ, chứ không chỉ vì một người cuồng tín đơn độc. Nắm được cái sâu sắc của những nỗi khổ hình và hy sinh này là rất cần thiết trong tiến trình thông hiểu về một nước Ba-Tư hiện đại.

Người Shiites Ba-Tư xem ông Ali phải là người đầu tiên trong mười hai giáo chủ (imams) hợp thức được kế vị sau ông Mohammad. Vị giáo chủ thứ 12 còn là một thiếu niên khi ông ta đi vào cõi huyền bí, xa rời với thế giới hiện hửu, nhưng vẫn nhận biết những chịu đựng khốn khổ của thế giới này. Theo những tin đồ Ba-Tư, ông ta vẫn còn rõ ràng sống thật. Họ sùng kính ông như Giáo Chủ Thứ 12, thường được gọi là Giáo Chủ Ẩn Kín hay là Giáo Chủ của Thời Đại, và nhiều người tụng niệm mỗi ngày cho sự trở lại của ông ta. Khi ông trở lại, ông sẽ là Mahdi, hay là vị cứu tinh, người sẽ sửa hết điều sai thành lẽ phải và đưa vào một thời đại của nền công lý hoàn hảo. Cho đến lúc đó, những người lãnh đạo trần tục phải tích cực noi gương trí sáng suốt và tính đạo đức của ông ta. Khi họ thất bại trong việc làm này, là họ đã giày xéo lên không chỉ nhân quyền mà còn đến ý muốn của Thượng Đế.

“Đấng Giáo Chủ xem xét tất cả nội tâm của con người và cùng chia sẻ với tâm hồn và linh hồn của mọi người mặc dầu ông ta không thấy được với mắt trần,” nhà học giã Shiite của thế kỹ thứ 20, Allamah Tabatabai đã viết. “Sự hiện hửu của ông ta là luôn cần thiết, ngay cả khi chưa đến lúc để ông ta phải xuất hiện bên ngoài và sự thiết dựng toàn cầu ông ta sẽ mang đến.”

Cái truyền thống thâm sâu này đã đưa tâm linh của người Shiites Ba-Tư vượt qua cái mức học thuyết chủ nghĩa thông thường, đến cái mà nhà nhân loại học Michael M. J. Fischer đã gọi là “một bi kịch của đức tin.” Họ tôn sùng ông Mohammad, nhưng theo bản năng phản xạ, họ lại tập trung chú ý đến ông Ali và Hussein nhiều hơn xa. Họ ôm chặt lấy cái mà Fisher gọi là “một truyền thuyết trãi rộng bao gồm tất cả lịch sử, vũ trụ luận, và vấn đề nhân sinh” và củng cố nó với “những phong tục lễ nghi hay nghi thức hành xác để biểu hiện truyền thuyết này và duy trì mức cảm xúc cao độ đã được tích lũy.” Ông Ali và Hussein đã cho các tín đồ một mô hình kiểu mẫu để không phải chỉ biết nên sống thế nào mà còn là nên chết thế nào.

Sau khi ông Ali và Hussein đã từ trần vào thế kỷ thứ 7, đế quốc Ả Rập đã lên đến đỉnh cao quyền lực và rồi bắt đầu xuống dốc. Những người Ả Rập đã chinh phục Ba-Tư, lần lần hòa nhập vào đám dân số ô hợp đang hiện hửu. Trong lúc uy quyền của Ả Rập đang yếu dần, thì của người Shiites bắt đầu tăng lên, một phần là vì những cảnh báo họ đã có về tham nhũng của những triều đại trên trần tục đã được gầy dựng bởi sự quá độ từ những kẻ xâm lăng Seljuk Turks, và sự dã man của rợ Mông Cổ Genghis Khan (Thành Cát Tư Hãn) đã tàn phá cướp bóc Ba-Tư vào những năm của cuộc xâm lăng họ mang lại vào năm 1220. Khi uy quyền của người Mông Cổ bắt đấu suy yếu, quyền hành đã được chuyển giao cho triều đại Safavid, những nhà kháng chiến dựa trên đức tin của tôn giáo Shiite. Nhà lãnh đạo của dòng họ Safavid là Ismail, một người kháng chiến quân Shiite đã đưa những chiến sĩ của ông ta vào trận địa trong lúc la hét: “Chúng tôi là đệ tử của đấng giáo chủ Hussein, và đây là sự bắt đầu cho một kỷ nguyên mới của chúng tôi! Chúng tôi đồng nguyện làm nô lệ cho Đấng Giáo Chủ! Tên của chúng tôi là Cuồng Tín (Zealot) và danh hiệu của chúng tôi là Liệt Sĩ Chết Vì Đạo (Martyr)!”

Sau một loạt chiến thắng với sự trợ giúp của những người Shiites, và họ đã túa đến từng đàn bên ông từ những vùng đất khác, Ismail tự tuyên bố chính mình là vua (shah) vào năm 1501. Hành động đầu tiên của ông ta sau khi lên ngôi vua là công bố đạo Shiism là tôn giáo chính thức của quốc gia. Một bức tiểu họa danh tiếng đã vẽ cảnh này với một dòng chú thích như sau: “Vào ngày thứ Sáu, ông vua vừa tấn phong đã đi đến ngôi đền thờ Tabriz của hội giáo và ra lệnh cho vị giáo sĩ trù trì (một nhân vật chức sắc cao quý Shiite) leo lên bục giảng kinh. Sau đó chính nhà vua đã tiến lên đứng trước bục này và rút thanh kiếm Chúa Tể của Thời Gian (the Lord of Time), mong ước sự an lành sẽ đến với ông ta, và đứng đó như một ánh mặt trời chói chang.”

Đây không phải chỉ là một hành động đơn giãn về đạo giáo, mà đó là một hành động quan trọng nhất trong bước tiến đến tạo thành một quốc gia Ba-Tư. Ismail đã dùng tôn giáo Shiism để trợ giúp ông xây dựng một đế quốc chỉ trong vòng mười năm từ khi ông lên ngôi mà không những chỉ bao gồm phần lớn nước Ba-Tư hiện tại mà còn kéo dài từ Trung Á đến Baghdad và từ vùng băng giá Caucasus đến địa phận cát sa mạc của Vịnh Ba-Tư. Trong thời thống trị của Ismail, nước Ba-Tư hiện tại đã không chỉ phát triễn về phương diện chính trị mà còn cả đến phương diện tâm linh. Dân tộc Ba-Tư đã cùng gắn bó với nhau bởi một địa lý luôn luân chuyển, một ngôn ngữ, và một bộ truyền thuyết của những hào hùng vinh quang từ xa xưa; nhưng không có một cái gút dây nào trói chặt họ bằng sự hăng hái thống nhất cho một tôn giáo Shiism. Trong cái hân hoan ôm lấy tôn giáo này, người Ba-Tư đã chấp nhận đạo Hồi Giáo, nhưng họ không theo phương cách của những kẻ xâm lăng Ả Rập Sunni đã mong muốn. Họ đã chống đối trong lúc tỏ vẻ là đã chịu phục tùng.

Quan trọng nhất có thể là những người Ba-Tư này đã tìm ra một tổ chức, một thể chế mà cuối cùng đã trả tự do cho họ từ những quyền hành chính quyền, ít nhất là trong tâm linh họ. Ismail và những nhà lãnh đạo Safavid nối tiếp sau đó đều nghĩ rằng họ có thể kiểm soát đạo Shiism, và trong thời gian hai trăm năm kế tiếp họ đã làm được việc này. Nhưng trong sự hoà hợp giữa Shiism và Zoroastrianism, là niềm tin những người trị vì chỉ được ở ngôi vị đó khi mà họ sáng suốt và vì dân. Cuối cùng, niềm tin này đã đưa đa số quần chúng Shiite và những nối kết với các nhà lãnh đạo tôn giáo của họ, quyền lực chính trị và bầu nhiệt huyết, đã mang đến sự sụp đỗ của những chế độ tạm thời này.

Đến lúc ông Ismail lên nắm quyền, dân tộc Ba-Tư đã đạt đến đỉnh cao của một nền văn hóa. Mới vào đầu thế kỷ thứ 9 là những nhà trí thức của họ đã làm những chuyến viễn du xuyên qua thế giới của Hồi Giáo, tìm kiếm những nhà triết học uyên bác nhất, và những nhà khoa học gia thông thái nhất, để rồi họ phiên dịch và nghiên cứu những luận đề, những tác phẩm của các bậc uyên thâm như Plato, Aristotle, Archimedes, Euclid, Ptolemy, và những nhà tư tưởng khác của Hy Lạp. Các tay thợ thủ công đã có những bước tiến vọt ngoạn mục trong lãnh hạt kiến trúc và nghệ thuật đồ gốm. Những chuyên gia thủ công lập ra những phong cách nghệ thuật, tuy là bắt chước nhưng không bao giờ sánh bằng được, ngay cả chính các tay tổ từ Constantinople đến những vùng thảo nguyên của Trung Á cũng không bằng. Những nhà thi sĩ có sức thu hút quyến rũ mê say, đã soạn thảo những áng văn đầy mê ly và cảm xúc mà cho đến nay vẫn còn được truyền tụng trên thế giới. Phần đông trong đám người này, như nhà thi sĩ huyền bí thế kỷ thứ 13, Jelaluddin Rumi, chối bỏ hết những gì có tính chất chính thống:


Ta không theo một tôn giáo hay giáo điều tín ngưỡng nào hết,
Cũng không phải người phương Đông hay phương Tây,
Hồi Giáo hay vô thần,
Zoroastrian, Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo hay Tà Giáo,
Ta không phải đến từ đất liền hay từ biển đại dương,
Cũng không thuộc giòng liên hệ cỏi dương hay cỏi âm,
Đã không sinh ra gần đây hay một nơi chốn xa xôi,
Không phải sống trên thiên đường hay hạ giới,
Tự cho là không thành hình từ Adam hay Eve hay những thiên thần
trên thượng giới.
Ta vượt qua cả thân thể này và linh hồn này.
Tổ ấm của ta ngoài tầm địa điểm và địa danh.
Nó nằm trong yêu thương, trong một không gian xa ngoài không gian.
Ta hân hoan ôm chặt lấy tất cả, và ta là một phần của tất cả.


Những thành tựu văn hóa này có nghĩa là dân tộc Ba-Tư cuối cùng đã đạt được sự thống nhất trong chính trị, và họ trong tư thế vững chải tiến vào thời đại mới với sự tự tin trong trí sáng tạo, cùng với sức mạnh chính trị và tâm linh của họ. Vị vua của triều đại Safavid đã gây cảm hứng cho họ để tạo nên những thành đạt vĩ đại nhất của họ như một dân tộc, là vua Abbas Shah, người mà đến nay vẫn còn được truyền tụng là một vị anh hùng dân tộc. Ông đã trị vì trên ngôi vàng trên bốn mươi năm, từ năm 1588 đến năm 1629. Sự thành công trong việc thống nhất dân tộc và mang đến một cảm giác cùng chung định mệnh cho cả toàn dân, ít nhất là thâm sâu ngang bằng với sự thành công của những cấp lãnh đạo đương thời như Hoàng Hậu Elizabeth I của Anh Quốc và Hoàng Đế Philip II của Tây Ban Nha. Ông đã cho xây dựng những đường xá mà theo đó đã mang những thương gia Âu Châu vào các thành phố Ba-Tư, và đồng thời thiết lập những cơ xưởng sản xuất lụa, đồ gốm, và những sản phẩm dễ buôn bán được ưa chuộng bởi những thương gia này. Bộ máy quan liêu của ông đã thu thuế, thi hành luật pháp, và tổ chức đời sống cộng đồng mà chưa bao giờ được thành lập kể từ thời đại của Cyrus và Darius vào hai ngàn năm trước đây.

Ông Abbas đúng với nguyên mẫu của những người cai trị Ba-Tư không chỉ vì ông ta tự cống hiến đời mình để mang đến một thế giới tốt đẹp nhất vào vương quốc của ông ta; mà ông ta còn tính chất đặc trưng tiêu biểu là áp dụng lối chuyên chế ác nghiệt và cấm chỉ tất cả các hành vi chống đối chính thể chuyên chế của mình. Tra tấn và xử tử hình là chuyện tầm thường trong thời gian ông ngự trị. Ông đã bắt giam những người con trai của ông trong cung điện hoàng gia hàng nhiều năm trời, cho phép họ được hưởng lạc thú ân ái với những cung tần mỹ nữ nhưng không chấp nhận cho họ được giáo dục và đào tạo để chuẩn bị cho họ trở thành những nhà lãnh đạo tương lai – hay là, vì ông ta lo sợ, họ phản kháng lại lối cai trị của ông ta. Ông Abbas đã ám sát người con trai trưởng và hai người con thứ, hai người anh em ruột của ông, và cho làm mù mắt cha của mình.

Di sản vĩ đại nhất mà ông Abbas đã để lại cho hậu thế là thủ đô huy hoàng rực rở, Isfahan, nơi mà ông đã biến đổi thành một trong những thành phố tráng lệ nhất trên thế giới. Cho đến ngày hôm nay, những nóc điện vươn vút cao, những ngôi biệt thự hoàng gia cầu kỳ phức tạp, và những điện thờ phượng tụng kinh với những viên gạch trạm trỗ nguy nga tuyệt vời, mang đến nỗi kinh ngạc và cảm phục cho những ai vào thăm viếng. Đúng như nhiều thế hệ của người dân Ba-Tư đã tin tưởng: Isfahan nesf-i-jahan (Isfahan là một nữa thế giới). Abbas đã mang về những tay thợ thủ công điêu luyện Armenian để giúp ông ta xây dựng thành phố này, những thưong gia Dutch để khuếch trương tầm với của nền thương mại và chợ búa, và những nhà ngoại giao từ quanh thế giới để mang lại bầu không khí của một thành phố quốc tế. Nữa triệu người đã sống ở đó, và chỉ một vài thành phố trên thế giới có thể tranh đua với sự hùng vĩ, tráng lệ của nó. Thế nhưng, Isfahan đã không chỉ trở thành biểu tượng sáng chói của Ba-Tư, mà còn là những khía cạnh đen tối dưới ách thống trị của ông Abbas.

“Tất cả, từ những trang trí quá thừa mứa qua những đồ sứ trong những đền đài đến những hồ nước và những thảm bông hoa chung quanh những mái hiên hoàng gia, đều mang một dấu ấn của một nghệ thuật không chỉ có tính cách làm hài lòng, mà còn được đề cao cái sức mạnh và sự uy nghi của một vương quốc,” một nhà văn hiện đại đã viết. “Ở đây, chúng ta có thể thông hiểu sự kỳ dị khác thường lẫn lộn giữa cái tàn ác và chủ nghĩa tự do, cái man di mọi rợ và cái lịch thiệp cao sang, cái tráng lệ nguy nga và cái yêu thích nhục dục… đó là tất cả đã tạo dưng thành nền văn minh của người Ba-Tư (Persian).”

Biết được sự tàn bạo của Abbas Shah đối với những đứa con thừa kế ngai vàng của ông, thì chẳng có gì ngạc nhiên khi nước Ba-Tư đã rơi vào tình trạng xáo trộn sau cái chết của ông. Những nước láng giềng bắt đầu hăm he rình rập, và vào năm 1722 những bộ lạc A-Phú-Hãn (Afghan) đã xuống càn quét và giày xéo nước Ba-Tư không thương tiếc, ngay cả trong quyết định cướp phá chính thủ đô Isfahan. Sau cùng, những người A-Phú-Hãn này đã bị tống cổ ra khỏi Ba-Tư bởi người lãnh đạo vĩ đại cuối cùng trong lịch sử Ba-Tư, ông Nadir Shah. Ông ta là một người Sunni Thổ Nhỉ Kỳ (Turk), người đã hành quân tiến chiếm Đề Ly, Ấn Độ (Delhi, India). Một trong những báu vật mà ông ta đã cướp được từ đây là cái ghế Ngai Vàng Con Công với đầy những viên ngọc và đá quý đã được khảm vào một cách tinh vi. Ngai vàng này đã trở thành vật biểu tượng cho hoàng gia Ba-Tư. Ông Nadir đã bị ám sát năm 1747, và sau một thời gian đấu tranh dài dai dẳng gần 50 năm, một triều đại mới đã lên nắm quyền hành, triều đại Qajars.

Xuất xứ của Qajars là một bộ lạc người Thổ Nhỉ Kỳ (Turkic tribe) hùng cứ ở gần khu vực biển Caspian Sea, và họ đã thống trị nước Ba-Tư từ cuối thế kỷ thứ 18 đến năm 1925. Những người vua thối nát ăn đút lót và hối lộ, cùng với những đầu óc nhỏ nhen của họ, mang nặng trách nhiệm cho sự nghèo khổ và lạc hậu của nước Ba-Tư. Ngang bằng với tốc độ tiến triễn ồ ạt mau lẹ của thế giới tân tiến, nước Ba-Tư đã đình trệ và ứ đọng trong nền phát triễn văn minh của đất nước dưới quyền cai trị của triều đại Qajars.

“Trong một quốc gia quá lạc hậu về tiến trình hiến pháp, quá thiếu thốn cơ cấu thủ tục, đạo luật, quy chế và hiến chương, và quá vững chắc trong đường lối rập khuôn theo những tục lệ xa xưa thượng cổ của phương Đông; yếu tố cá nhân, như đã biết trước, là đa phần nằm trong tay người có ưu thế uy quyền và uy lực đăng tăng tiến,” nhà chính khách lão thành Lord Curzon đã viết vào khoảng cuối triều đại Qajar. “Chính phủ của Ba-Tư không là gì hết, ngoài một giai cấp áp dụng chuyên quyền độc đoán bởi một loạt phần tử nằm trong chế độ, với quy mô thang cấp từ cao xuống thấp, từ vua cho đến người trưởng làng của một xã nhỏ nhất.”

Nếu như nước Ba-Tư đã được cai trị bởi một chế độ hùng mạnh và sáng suốt, thì có thể họ đã đẩy lui được những tham vọng của những cường quốc ngoại xâm. Mặc dầu thế, áp lực cũng sẽ rất cao và căng thẳng trong mọi trường hợp. Địa lý đã đặt Ba-Tư vào sự cản trở của hai thế lực đế quốc lớn nhất thời kỳ đó, Anh Quốc và Nga. Khi người Anh nhìn vào nước Ba-Tư, họ thấy một quốc gia đang đứng chặn ngang giữa tuyến đường đến Ấn Độ, một thuộc địa giàu có nhất và quý giá nhất của họ. Còn phần người Nga, họ thấy đây là một cơ hội để được quyền kiểm soát một vùng đất rộng lớn, trống trãi ở biên giới miền nam của nước họ. Sự thật hiển nhiên là nước Ba-Tư đang bị cai trị bởi một quốc vương yếu kém và ích kỹ chỉ tự lo thân, lại càng thêm như trêu vào ý đồ của các đế quốc kia, mà cuối cùng là họ không kềm hãm được. Cả hai đã mau lẹ trám vào cái lỗ hổng quyền lực mà triều đại ngu muội Qajars đã lưu lại.

Những vua chúa của triều đại Qajar đã không có vẻ gì là lo lắng khi nhìn thấy Ba-Tư đang trôi dần vào vị thế nhược tiểu, chư hầu. Hoặc là nếu họ đã có nghĩ đến, thì họ đã quyết định lợi dụng những gì họ có thể làm được, trong một định mệnh được xem là không thể tránh khỏi. Trong một quyết định mà cuối cùng đã đưa ra sự cân nhắc sai lầm nhất, họ đã nghĩ là người dân Ba-Tư lúc nào cũng tuân theo lệnh của người cai trị đặt ra. Nhưng vì những lũng đoạn đồi bại của chính quyền họ, đặc biệt là sự sẳn sàng để cho nước Ba-Tư trợt vào vòng thống trị của những đế quốc ngoại bang, triều đại Qajars đã không còn đồng chí hướng với dân chúng Ba-Tư mà sau rốt là họ đã mất quyền cai trị, quyền farr của họ. Võ trang với nguyên tắc luân lý đạo đức Shiite, cái mà cho phép một người dân bình thường được quyền lật đổ chế độ một chính phủ chuyên quyền, và với những lý tưởng của một thế giới mới đang xuất hiện, dân chúng Ba-Tư đã nỗi dậy trong một lề lối mà tổ tiên ông cha của họ cũng chưa từng bao giờ có được. Những yêu sách của họ cũng đầy kinh ngạc như chính cuộc nỗi dậy đó: Chấm dứt sự thống trị bởi những cường quốc ngoại xâm, và phải có một nghị viện đại diện cho ý muốn quần chúng. Đây là một chương trình cấp tiến nhất từ xưa nay mà người dân Ba-Tư đã hồ hởi ôm ghì nắm chặt. Nó đã viết nên sự lật đổ triều đại Qajar và định nghĩa tất cả những dòng lịch sử tiếp nối của Iran.

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2009

Preface to the 2008 Edition - All the Shah's Men - by Stephen Kinzer

Sự Dại Dột trong Ý Đồ Tấn Công Ba-Tư
(The Folly of Attacking Iran - All the Shah's Men)
(Stephen Kinzer)
Dịch bởi Alexander Le



Trên một nữa thế kỷ đã trôi qua từ khi Hoa Kỳ (the United States) lật đổ chính quyền dân chủ độc nhất mà Ba-Tư (Iran) đã có được từ trước đến nay. Cuốn sách này sẽ trình bày cuộc diễn biến định mệnh đã xảy ra và xét lược những hậu quả tai hại của nó. Nó nói lên một câu chuyện mà nên được dùng làm một bài học tiêu biểu về đề tài này. Sự can thiệp vào Ba-Tư bằng bạo lực trong năm 1953 đã được xem là một ý tưởng tốt vào thời điểm đó, và nó đã có vẽ thành công trong một thời gian sau đó. Thế nhưng trong hiện tại, nó cho thấy rõ ràng sự can thiệp này đã không những mang đến cho đất nước Ba-Tư nhiều thập niên bi thảm, mà còn tạo ra những động lực đưa đến sự xoái mòn trầm trọng nền an ninh quốc gia của người Mỹ (American).

Trong lúc những nhà quân sự ở Hoa Thịnh Đốn (Washington) đang thúc đẩy cho một cuộc tấn công thứ hai của người Mỹ vào Ba-Tư, câu chuyện này càng mang thêm tính chất thích đáng một cách khẩn cấp hơn bao giờ hết. Nó đưa ra cái sự dại dột trong lối dùng bạo lực để cố cải cách Ba-Tư. Vào năm 1953, Hoa Kỳ đã tấn công chính phủ Ba-Tư, một chính phủ mà họ không chấp thuận trong quá trình tìm cách tăng tiến những quyền lợi chiến lược của họ. Kết quả là những điều hoàn toàn trái ngược theo ý mong muốn của các nhà lãnh đạo Mỹ.

Nếu Hoa Kỳ đã không gửi những nhân viên đặc vụ vào Ba-Tư để lật đổ Thủ Tướng Mohammad Mossadegh vào năm 1953, nước Ba-Tư có lẽ đã tiếp tục thẳng tiến trên con đường dẫn đến một nền dân chủ toàn diện. Qua những thập niên tiếp nối, Ba Tư có lẽ đã trở thành quốc gia dân chủ đầu tiên trong vùng Hồi Giáo Trung Đông (Muslim Middle East), và chắc đã có cơ hội trở thành một quốc gia kiểu mẫu cho các nước trong khu vực và lan rộng ra xa hơn nữa. Sự thể như thế hẳn đã thay đổi dòng lịch sử một cách sâu sắc - không chỉ đơn thuần lịch sử của Ba-Tư hay là miền Trung Đông, mà ngay cả lịch sử của Hoa Kỳ và cả thế giới.

Theo cách nhìn hôm nay – cách nhìn của những ai đã sống qua những cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9, cuộc chiến Iraq, và tất cả những mối đe dọa hiện hửu đã nỗi lên làm mất ổn định tình hình thế giới ngày nay - cuộc can thiệp vào Ba-Tư năm 1953 có thể nhận định là một điểm rẽ quyết định trong lịch sử của thế kỷ thứ 20. Khi đưa ông Mohammad Reza Shah trở lại “Ngai Vàng Con Công” (Peacock Throne), Hoa Kỳ đã đưa một nền dân chủ đang thành hình (trong quá trình diễn tiến lâu và chậm) của Ba-Tư đến một điểm ngừng ngang đột ngột. Vua Shah đã thống trị với sự đàn áp tăng dần theo thời gian hai mươi lăm năm ông đã nắm giữ quyền hành. Sự đàn áp của ông ta đã dẫn đến sự bùng nổ của những năm cuối của thập niên 1970 mà sau này được biết đến với cái tên “Cuộc Cách Mạng Hồi Giáo” (the Islamic Revolution). Cuộc cách mạng này đưa những phe đảng giáo sĩ cuồng tín lên nắm quyền hành; họ là những người hăng say chống đối người Tây Phương, và nhiều lúc hành động với bạo lực, trong công việc phá hoại những quyền lợi của người Mỹ trên thế giới.

Vào năm 1953, Hoa Kỳ đã lật đổ một nhân vật Ba-Tư theo chủ nghĩa dân tộc, người mà đã từng ôm chặt đón nhận lấy những nguyên tắc cơ bản của người Mỹ, để thay thế ông ta với một kẻ bạo chúa chuyên quyền, người mà đã từng khinh miệt những gì tiêu biểu của nước Hoa Kỳ. Ngày nay, thế giới phương tây đang thấy mình đối diện với một chế độ ở Tehran (thủ đô của Ba-Tư) với hiện thân của những đe dọa khôn lường và sâu đậm hơn thập phần so với cái chế độ mà họ đã nghiền nát năm 1953. Trong tòa Bạch Ốc (the White House), sức thôi thúc cho một cuộc tấn công Ba-Tư hiện nay, dường như vẫn mạnh mẻ như thời kỳ xa xôi đó. Không khó để tưởng tượng về một cuộc tranh luận của những tay cố vấn của Tổng Thống Bush khi tìm cách để thuyết phục ông ta. Họ sẽ nói: Chúng ta đã chịu tổn thất nặng nề trong những cú đánh tấn công của ngày 11 tháng 9 vì cựu Tổng Thống Clinton đã không đủ táo bạo để giệt một sự hăm dọa đang phát triễn; vậy thì chúng ta hãy hành động dũng khí như các đấng nam nhi thật sự mà tiêu diệt cái hăm dọa đang phát triễn hiện nay, còn hơn là chừa nó lại cho một chính phủ về sau.

Tại sao tấn công Ba-Tư? Những người có ý thuận trong việc này dẫn chứng nhiều viện lẽ: Ba-Tư không thể được cho quyền chấp nhận để trở thành một quốc gia với sức mạnh vũ khí hạt nhân; Ba-Tư đang ở tư thế là một mối đe dọa hiện thực về sự hiện hửu của nước Do Thái (Israel); Ba-Tư nằm trong trọng tâm của đảng phái hồi giáo “Lưỡi Liềm Shiite” (Shiite crescent) đang vươn lên, đó là đảng phái đang gây ra mất ổn định ở vùng Trung Đông; Ba-Tư ủng hộ những phần tử phản kháng các chính quyền trong những nước lân cận; Ba-Tư đang trợ giúp những kẻ thù đang giết chết quân lính Mỹ ở Iraq; Ba-Tư đã ra lệnh cho tấn công khủng bố vào những quốc gia khác trên thế giới; người dân Ba-Tư đang bị áp bức và cần được người Mỹ giãi phóng họ.

Cũng có những cuộc bàn cải về lý do “chính trị địa lý” khu vực (geopolitical) cho việc tấn công Ba-Tư. Từ thời đại Chiến Tranh Lạnh (Cold War), Hoa Kỳ vẫn dùng một nước trong vùng Trung Đông như là một bàn đạp để phát huy sức mạnh và ảnh hưởng của mình ra toàn khu vực. Trong một thời gian 25 năm, nước đó là Ba-Tư nằm dưới quyền thống trị của vua Shah. Hiện thời là nước Ả-Rập (Saudi Arabia), nhưng tại đây không chắc có được triển vọng cho một sự ổn định lâu dài. Còn mơ ước viễn vông cho Iraq trở thành một đồng minh then chốt của Mỹ trong vùng này sau cuộc xâm chiếm đã bay tan theo mây khói. Một vài nhân vật ở Hoa Thịnh Đốn đưa ra ý kiến mới: khi khói bụi chiến tranh tàn lụi và chìm lắng sau trận tấn công xâm chiếm Ba-Tư, một quốc gia Ba-Tư mới sẽ thành hình trong tình trạng ổn định vững chắc và thân thiện với Hoa Kỳ.

Lý do rõ ràng và hiển nhiên nhất để phải tấn công đánh Ba-Tư là sự chiến thắng về phưong diện có quyền xử dụng số lượng dầu cung cấp khổng lồ của nước này. Khi ông Winston Churchill (Cựu Thủ Tướng Anh Quốc vào thời trước, trong, và sau Đệ Nhị Thế Chiến) giúp chiếm đoạt kỹ nghệ dầu hỏa của Ba-Tư vào những năm trong thập niên 1920, ông ta đã gọi đó là “một phần thưởng vượt xa ngoài tầm với từ chốn thần tiên trong giấc mơ kỳ diệu nhất của chúng ta.” Đó vẫn còn là sự thật như vậy. Bất chấp những nhà hoạch định chính sách ở Hoa Thịnh Đốn (hay bất cứ ở nơi nào khác) đã phát biểu ý kiến gì đi nữa, thì sự thật là không một quốc gia nào trên thế giới đã không nghĩ đến lượng dầu hỏa tồn trữ của nước Ba-Tư khi có bất cứ hành động hay chính sách gì đối với họ. Đặc biệt là đúng thật như thế đối với chính phủ Bush, một chính phủ đồng minh rất gần gủi với kỹ nghệ dầu hỏa, nhiều hơn tất cả những chính phủ đã nằm trong lịch sử nước Hoa Kỳ.

Tổng Thống Bush và những viên chức chung quanh ông có thể có nhiều lý do khác để cảm thấy quyến rũ trong ý tưởng xâm chiếm Ba-Tư. Một số người tin tưởng rằng (cho mặc dầu ngược lại với các chứng cớ) cái chìa khóa cho sự chiến thẳng ở Iraq là sự nghiền nát chế độ đương thời của Ba-Tư. Chính Tổng Thống Bush đã nói nhiều lần là ông ta tin chờ lịch sử sẽ giãi tội cho ông; đó là một lý lẽ có thể dùng để biện minh cho cả những quyết định điên rồ nhất của một tổng thống. Dưới những lý lẽ tranh cải này, còn có thêm một mối thúc đẩy phổ biến hơn.

Các nhà lãnh đạo Mỹ, dứt khoát ngay cả chính Tổng Thống Bush, tin tưởng rằng vì Hoa Kỳ là một cường quốc, nên họ có quyền và mang trọng trách phải phản ứng mạnh mẻ và gây ấn tượng một cách đầy kịch tính khi có chuyện bất an xảy ra bất kỳ nơi nào trên thế giới. Mối thúc đẩy đầy trực tính này ít nhất là đã được xác định từ thời kỳ của Thucydides (sử gia Hy Lạp {Greece}, vào thế kỷ thứ 5 B.C.), người đã viết rằng: nhiều quốc gia có “ý thiên phú tự bắt buộc (theo trực tính) phải thống trị khi có khả năng hoặc được cơ hội cho phép.” Gần đây hơn, trong một cuộc nghiên cứu về cuộc Chiến Tranh Tây Ban Nha - Mỹ (Spanish-American War) đã có nhiều sự thích hợp xác đáng với thời thế hiện tại; sử gia người Anh, ông Joseph Smith đã viết là sự háo hức tấn công những vùng đất ngoại bang của người Mỹ phát sinh từ “sự hung hăn trong chủ nghĩa tự kiêu của quốc thể và tính lãng mạn kèm trong ý niệm cường quốc.” Một số người ở Hoa Thịnh Đốn tin rằng: xâm chiếm, lật đổ, và chiếm đóng chỉ đơn giãn là những gì các nước cường quốc phải làm. Họ tranh luận rằng nếu không như thế thì không cần gì phải có sức mạnh của một cường quốc.

“Tại thời điểm này trong lịch sử, nếu có vấn đề gì xảy ra, chúng ta đang được mong đợi phải giãi quyết nó,” Tổng Thống Bush đã nói như thế trước khi mở cuộc tấn công vào Iraq. Theo tiêu chuẩn của ông ta, Ba-Tư chắc chắn đang trở thành một “vấn đề”. Và đó đã gợi đến cái ý là ông ta có thể quyết định hạ lệnh cho một cuộc tấn công để ông ta “giãi quyết nó”.

Trước khi những cường quốc đi đến những quyết định có tầm với sâu xa và có thể sẽ thay đổi thế giới, thường thì những người lãnh đạo này cân nhắc và suy xét những bài học đã trải qua trong lịch sử. Bất cứ một cuộc thảo luận nào về nước Ba-Tư hiện đại, và chắc chắn là bất cứ cuộc tranh cải nào về việc Hoa Kỳ nên can thiệp vào nước này hay chăng, đều phải có một sự đánh giá về những gì đã xảy ra sau lần can thiệp cuối của chúng ta. Vào năm 1953, vì quá hăng say để thành đạt những mục đích ngắn hạn, Hoa Kỳ đã mở lệnh phát huy một chương trình hành động mà vì đó đã mang đến nhiều tai họa cho Ba-Tư và ngay cả chính họ. Mặc dầu thế, một số người ở Hoa Thịnh Đốn vẫn bác bỏ chuyện lịch sử có tính chất phù hợp này, và cho rằng chuyện đó không thích đáng trong tình hình hiện tại. Họ tin rằng lần này, họ có thể tấn công Ba-Tư và sẽ hoàn toàn thắng lợi.

Một số nhân vật tầm vóc trong nước Mỹ đã mô tả sự quyết định xâm chiếm Iraq vào năm 2003 của Tổng Thống George Bush là một chiến lược sai lầm lớn nhất trong lịch sử của quốc gia Hoa Kỳ. Tấn công đánh Ba-Tư vào thời điểm này, sẽ có thể là một tai hại thảm khốc hơn nữa. Nó sẽ: đưa cấp lãnh đạo của xứ này (thành phần mà người dân đang oán ghét vì sự đàn áp của chính phủ hiện thời) lên thành những người anh hùng Hồi Giáo phản kháng lại nước xâm lăng đô hộ Hoa Kỳ; cho họ một động cơ thúc đẩy mạnh mẻ để mở một loạt chiến dịch bạo động nhầm chống đối và phá hoại những tài sản và quyền lợi của người Mỹ trên toàn thế giới; mang đến sự đoàn kết và củng cố giữa những người Ba-Tư theo chủ nghĩa dân tộc, những người Shiite theo chủ nghĩa thu hồi lãnh thổ, những người Hồi Giáo thuộc phe nhóm cực đoan, và vì thế sẽ thu hút thêm vô số tân binh cho các công tác khủng bố; dẫn đến sự suy thoái của cuộc vận động cho nền dân chủ của Ba-Tư và tiêu diệt những viễn tượng cho một sự thay đổi chính trị ở xứ này trong một thời gian ít nhất là thêm một thế hệ nữa; sẽ biến đổi những người dân Ba-Tư mà đang là những người yêu chuộng người Mỹ nhất trong vùng Trung Đông, thành những kẻ thù của Hoa Kỳ; sẽ bắt buộc Hoa Kỳ phải liên lụy sâu đậm vào vùng Vịnh Ba-Tư (Persian Gulf) vô hạn định, buộc Hoa Kỳ phải bênh vực theo bè phái trong mọi tình huống của những xung đột trong vùng và như thế sẽ đưa đến một đám kẻ thù mới cho Hoa Kỳ; làm chính phủ láng giềng Iraq với đa số là người Shiite sẽ nổi điên lên, trong khi Hoa Kỳ lại cần họ giữ yên tịnh những bạo động ở nơi này; và rất có triễn vọng sẽ gây gián đoạn việc cung cấp dầu hỏa từ Trung Đông, mà ảnh hưởng sẽ là tai hại khôn lường cho những nền kinh tế của các nước tây phương.

Với những hậu quả có lẽ gần với sự thật vừa nêu trên, tại sao Hoa Kỳ phải tấn công Ba-Tư? Những người nghiêng theo lối suy nghĩ này cho rằng nó sẽ thực hiện được ba việc: ngăn chặn được Ba-Tư phát triển vũ khí tiêu diệt tập thể (weapons of mass destruction), lật đổ một chế độ hung hăng chống đối người Mỹ, và mang lại một chính phủ dân chủ mới cùng phe với Hoa Kỳ. Chính phủ mới này, theo họ suy đoán, sẽ cho phép những hãng dầu hỏa của người Mỹ được tự do xuất nhập vào số lượng dầu thô của Ba-Tư, và sẽ cho Hoa Kỳ một cơ hội để xây dựng lại những ảnh hưởng trong vùng mà họ đã từng có với Ba-Tư. Những mơ mộng hảo huyền này vừa nguy hiểm, cũng như vừa là ảo tưởng.

Ba-Tư là một trong những quốc gia lâu đời nhất trên thế giới. Lịch sử của nước nầy đầy rẫy những vinh quang rực rở, với những nhân vật lãnh đạo vĩ đại như Cyrus, Xerxes, và Darius, cùng các nhà thơ, nhà hiền triết, mà tất cả đã cống hiến vô hạn cho nền văn hóa nhân loại. Truyền thống phong phú này đã cho dân tộc Ba-Tư một niềm tự hào cộng đồng sung mãn, một cảm giác thiết tha gắn bó với di sản văn hóa quốc túy, và một đặc tính quốc gia vượt qua cả những hành động yêu nước giã tạo như đưa tay phất cờ và tung hô khẩu hiệu. Phần đông dân chúng Ba-Tư ghét cay đắng chế độ mà họ phải đang sống dưới ách hiện tại, nhưng chuyện đó vẫn không làm suy chuyển sức gắn bó giữa họ và đất nước Ba-Tư. Tất cả họ đều biết là khi nước Hoa Kỳ vừa hình thành, thì quốc gia họ đã hiện hửu trên hai ngàn năm. Bất chấp họ đứng về phe nào trên quan điểm chính trị, đa số bọn họ thường xù lông giận dử khi nghe những lời hăm dọa từ Hoa Thịnh Đốn.

Cái ý tưởng Hoa Kỳ có thể thả bom Ba-Tư để biến đất nước này thành một quốc gia dân chủ, xem ra càng vô lý hơn trong cái thức tỉnh của sự suy sụp ở Iraq. Cho người dân Ba-Tư thì đặc biệt nó có một ý mỉa mai bi thảm. Tất cả họ đều biết, nhiều như số người Mỹ không biết, là nền dân chủ đã đang bắt đầu bén rễ trong nước Ba-Tư vào năm 1953, khi mà người Mỹ đã nhúng tay can thiệp và đàn áp chôn vùi nó. Dựa vào sự thật lịch sử này, những người Ba-Tư có thể đáng được tha thứ khi họ nghĩ thật là một sự trớ trêu quá kỳ quái khi hiện nay người Mỹ lại đề nghị làm người giãi phóng họ. Họ đau đớn nhận thức là Hoa Kỳ đã trợ giúp tạo dựng thành cái chính thể tôn giáo trị vì hiện tại đang đàn áp đời sống của họ trước mắt.

Một thiểu số người Ba-Tư tin tưởng rằng những người Mỹ muốn tấn công Ba-Tư phải làm như thế là để mang lại tự do cho họ. Đại đa số không tin ý chính của Hoa Kỳ là tập trung vào việc phá hủy chương trình hạt nhân - một chương trình mà chính Hoa Kỳ đã đề nghị với Ba-Tư vào thập niên 1970, khi vua Shah đang nắm quyền hành. Tất cả người Ba-Tư đều tin tưởng đó là quyền tự nhiên của quốc gia họ trong việc phát triển chương trình này. Đằng sau những động lực nêu trên, đằng sau những hăm dọa càng ngày càng gia tăng trầm trọng theo âm vang tiếng trống của chiến tranh càng lúc càng giống lên ầm ỉ hơn từ Hoa Thịnh Đốn, người dân Ba-Tư càng nhận thấy đây là một chiến dịch rất đáng hoài nghi và vô đạo lý. Họ tin tưởng rằng Hoa Kỳ muốn đưa họ trở thành một nước nữa là đồng minh nữa là chư hầu, để chiếm đoạt nguồn tài nguyên dầu thô của họ và xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ của họ. Đó là lý do thật sự mà Hoa Kỳ đã can thiệp vào Ba-Tư năm 1953, và không có lý do nào để tin rằng những mục đích đó đã thực sự thay đổi.

Thuật ngữ dùng tấn công Ba-Tư là ngôn ngữ chính của Hoa Thịnh Đốn từ khi chính phủ Bush lên nắm quyền năm 2001. Tổng Thống Bush đã nỗi tiếng với nét miêu tả chân dung của Ba-Tư là một phần của “trục ác độc” (axis of evil) trên toàn cầu. Trong lễ nhậm chức lần thứ hai, ông ta đã gọi Ba-Tư là “quốc gia chủ yếu đỡ đầu cho khủng bố trên thế giới,” và sau đó ông ta cảnh báo là không chấp nhận được một nước Ba-Tư trỗi dậy lên như một cường quốc hạt nhân. Phó Tổng Thống Dick Cheney đã đặt Ba-Tư lên “danh sách hàng đầu” của những địa điểm có tình trạng bất an của thế giới. Tổng Trưởng Bộ Ngoại Giao Condoleezza Rice tuyên bố hồ sơ nhân quyền của Ba-Tư là “một cái đáng kinh tởm”. John Bolton, cựu Đại Sứ Hoa Kỳ ở Liên Hiệp Quốc, khẳng định đây là lúc “ồ ạt tăng áp lực” với Ba-Tư , và nếu những hình phạt và những biện pháp cưỡng bức không làm chính quyền Ba-Tư thay đổi đường lối, “ thì tôi nghĩ chúng ta cần nhìn đến đáp án áp dụng vũ lực.” Thượng Nghị Sĩ Joseph Lieberman, một trong những người rất trung thành ủng hộ Tổng Thống Bush trong những vấn đề chính sách đối ngoại, đã lên tiếng với một phóng viên truyền hình là nếu người Ba-Tư “không chơi theo luật lệ, chúng ta phải dùng quân lực của chúng ta, và đối với tôi đó kể cả dùng hành động quân sự để bắt buộc họ phải ngừng những gì họ đang làm.”

Lieberman đã dùng một luận cứ mới để biện hộ cho việc ông kêu gọi tấn công Ba-Tư. Ông ta đã buộc tội Ba-Tư trợ giúp kháng chiến quân ở Iraq, và những sự trợ giúp này đã gây ra nhiều hậu quả tai hại, mang đến trên hai trăm lính Mỹ tử vong. Đây là một luận cứ xuất sắc phi thường, mĩa mai thây. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, khối Liên Sô (the Soviet Union) cung cấp cho Bắc Việt Nam vũ khí và đạn dược dùng để giết chết hàng chục ngàn người lính Mỹ. Trung Hoa (China) đã cũng làm thế với đồng minh Bắc Triều Tiên (North Korea) vào những năm trong thập niên 1950. Hoa Kỳ đâu có tấn công những quốc gia cung cấp vũ khí này vào thời đó. Cũng không có chuyện chính quyền Sandinista ở Nicaragua (ở Nam Mỹ) có ý muốn tấn công nước Hoa Kỳ vào những năm trong thập niên 1980, khi vũ khí của Mỹ và những chiến sĩ được huấn luyện bởi Mỹ đã giết hàng loạt binh lính và người dân của Nicaragua. Trợ giúp nước bạn và phe đồng minh trong thời chiến tranh là một chiến thuật xưa như chính chiến tranh gián tiếp (proxy war). Hiện nay, với một chính phủ Bush đang hăng hái tìm một vật tế thần cho sự thất bại ở Iraq, ông Lieberman đang kêu gọi khẩn thiết “Hoa Kỳ phải ra tay hành động quân sự hùng hổ với Ba-Tư để ngăn chặn họ giết người Mỹ trong nước Iraq”.

Những từ ngữ hăm dọa này có thể hù được những nước nhược tiểu, nghèo nàn, cô lập, và dễ bị giao động. Khi đem nó hướng vào một quốc gia tự hào như Ba-Tư, thì nó lại có ảnh hưởng phản ngược. Nó đoàn kết người dân và làm cứng rắn thêm sức phản kháng; giống như mọi người ở mọi nơi, không ai thích bị ra lệnh và bắt buộc bởi những người mà họ xem là kẻ hiếp đáp, bắt nạt.

Anh Quốc (Great Britain) là kẻ thù của Ba-Tư trong một thời gian dài đáng kể hơn Hoa Kỳ nhiều, và xem ra họ đã học đuợc bài học ở đây. Năm 1953, khi gián điệp mật vụ Anh làm việc với CIA để lật đổ Thủ Tướng Mossadegh, và theo lề thời gian của thế kỷ thứ 20, sự chống đối gay gắt người Anh trong nước Ba-Tư lúc nào cũng mãnh liệt hơn sự chống đối người Mỹ. Vậy mà khi quân tuần tiểu hải quân của Ba-Tư bắt 19 thủy thủ và lính thủy quân lục chiến của Anh Quốc (những người mà họ nói là đã vi phạm vào hải phận của họ bất hợp pháp) vào mùa xuân năm 2007, những nhà lãnh đạo của Anh Quốc đã phản ứng theo một cách thật sửng sốt, và hoàn toàn khác hẳn với phưong cách của những nhà lãnh đạo Mỹ nếu trường hợp xảy ra với những người lính bị bắt đó là lính bộ binh của Mỹ. Thủ Tướng Anh Tony Blair tuyên bố lập đi lập lại, khẳng định là ông ta chỉ theo đuổi những đường lối ngoại giao để mang đến tự do cho những người bị bắt này, và dứt khoát từ chối hẳn phương án dùng vũ lực. Hiển nhiên chuyện đó đã gây ấn tượng rất sâu đậm với chính quyền Ba-Tư, nên sau đó không lâu họ đã phóng thích những người bị bắt này. Một sự việc rắc rối có thể sẽ phải đưa ra một cơn khủng hoảng lâu dài và rất mất ổn định, đã được giãi quyết qua thương lượng mà không bên nào bị mất mặt.

Những người Mỹ lãnh đạo không những chỉ tóm lấy mỗi cơ hội có được để gầm gừ với Ba-Tư, mà còn chủ động đề xuất một loạt hoạt động nhằm phá rối gây mất ổn định cho chế độ Hồi Giáo đương thời. Những hoạt động này có thể coi là những trò gián điệp ngầm nếu mà chính quyền Ba-Tư đã không biết trước quá rõ. Một phần của hoạt động này là đưa vào hàng chục triệu đô-la (dollars) cho những phần tử được xem là phe hổ trợ chính sách dân chủ trong Ba-Tư. Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi những giáo sĩ (mullahs) Hồi Giáo trong cấp lãnh đạo của Ba-Tư đã xem tất cả những tổ chức tư nhân trong nước là một công cụ tiềm tàng của người Mỹ dùng cho những ý đồ xâm lược và lật đổ chế độ. Họ đã tung ra những cuộc trừng trị đàn áp thẳng tay với những tổ chức này và kết quả là hằng trăm người có tư duy đổi mới cho đất nước Ba-Tư đã bị giam cầm trong trại tù Evin ở Tehran; nơi mà phương pháp hành hạ tù nhân và tệ nạn nhân quyền không thua gì ở trại tù Guantánamo của người Mỹ ở Cu-Ba (Cuba). Những kẻ chống đối này đã cho biết, khi họ bị bắt giam những người tra vấn họ đều có chung một chú tâm duy nhất khi tra hỏi là: tiền ở đâu ra và phần nào là của người Mỹ đưa vào. Bằng cách công khai trích quỹ quốc gia cho chương trình này để cố ý làm hại chế độ ở Ba-Tư, vô hình chung Hoa Kỳ đã trợ giúp chế độ này có lý do để bắt bớ giam cầm những người phe đối lập này, làm thu nhỏ không gian phát triển nền dân chủ trong nước, và làm thụt lùi lại những tự do mà dân Ba-Tư đang phấn đấu thành hình.

Bên cạnh những toan tính vụng về để cố tạo lại khung cảnh chính trị trong nước Ba-Tư, Hoa Kỳ cũng đang tiến hành những cách can thiệp trực tiếp hơn. Họ đã đưa hạm đội hải quân vào Vịnh Ba-Tư (Persian Gulf) và mang máy bay thả bom hạng nặng vào nước lân cận Qatar. Thêm nữa, theo tin tức báo cáo, Hoa Kỳ đã bắt đầu bí mật xuất công quỷ tài trợ cho những băng đảng võ trang của Kurds, Baluchis, Azeris, và những đám dân tộc thiểu số khác trong nước Ba-Tư; những người đã công nhận có trách nhiệm trong việc ám sát những nhân viên chính phủ Ba-Tư và chiến sĩ Vệ Quân Cách Mạng (Revolutionary Guard). Đây là những phương cách làm áp lực với mục đích cho chế độ ở Ba-Tư phải lo sợ và suy nhược tinh thần; thế nhưng ngược lại, nó mang đến sự đàn áp ác liệt hơn với những người phê bình chống đối chế độ trong nước.

Cái lý thuyết đằng sau chính sách của Hoa Kỳ đối với Ba-Tư hình như là chế độ Ba-Tư yếu đuối và dễ bị công kích bằng những phương pháp làm áp lực thông thường. Thật ra, chế độ này hùng mạnh hơn bao giờ hết. Sự sụp đổ của khối Liên Sô đã giãm mạnh áp lực vùng biên giới miền bắc của Ba-Tư, mang đến sự thành hình của thêm nữa tá quốc gia mới với người Hồi Giáo là đa số, và nó mở ra một số cơ hội chiến lược mới cho nước Ba-Tư. Giá dầu tăng cao đã cho Ba-Tư một nền kinh tế vững mạnh trong mấy năm đầu tiên của thế kỹ mới. Rồi, bất ngờ, Hoa Kỳ, nước đang hò hét ầm ỉ dẫn đầu một liên minh quốc tế bài chống Ba-Tư, ban cho Ba-Tư một đặc ân bằng cách tiêu diệt hai chế độ mà Ba-Tư lo sợ nhiều nhất: chế độ Taliban của A-Phú-Hãn (Afghanistan), một chế độ cai trị bởi những kẻ cực đoan cuồng tín Sunni đang chống đối chế độ Ba-Tư, và chính quyền Saddam Hussein của Iraq, một chính quyền mà Ba-Tư đã chiến đấu một cuộc chiến tranh tàn khốc vào những năm của thập niên 1980.

Thế lực ảnh hưởng của Ba-Tư trong vùng Trung Đông đã lớn mạnh vững vàng từ khi Hoa Kỳ xâm lăng Iraq. Tân chính quyền của Iraq với đa số là người Shiites, những người khâm phục và làm việc sát cánh với Ba-Tư. Tổng Thống Hamid Karzai của A-Phú-Hãn đã rộng mở vòng tay chào đón Ba-Tư như là “người bạn thân yêu của chúng ta”. Ở Lebanon, chính quyền Ba-Tư đã chiến thắng một trận chiến mà những người Hồi Giáo cho là một chiến thắng vĩ đại vào năm 2006, khi mà đoàn dân quân Hezbollah dưới sự trợ giúp của Ba-Tư đã chận đứng những cuộc tấn công của Do Thái và ra tay gánh vác những công trình kiến thiết sau trận chiến.

Với nước Iraq đang trong hỗn loạn, và Syria cùng Ai-Cập (Egypt) đang chìm đắm trong những khó khăn riêng của đất nước, Ba-Tư đã trở thành một quốc gia thế lực Hồi Giáo duy nhất trong vùng Trung Đông có thể uốn nắn những sự kiện quan trọng vượt quá hạn biên giới của họ. Ba-Tư đã tăng thêm ảnh hưởng của họ trên những nước Iraq, Lebanon, Syria, và người dân Palestines, cùng với những “phần tử vô tổ quốc” như Hezbollah, Hamas, và Islamic Jihad (Chiến Binh Tôn Giáo). Trong lịch sử hiện đại, chưa bao giờ Ba-Tư được hùng mạnh hơn bây giờ. Phần lớn của tai ác này, là hậu quả do những việc làm của Hoa Kỳ. Sự trỗi dậy hùng mạnh của Ba-Tư không phải là do công trình cố gắng của riêng họ, mà do cấp lãnh đạo của họ chỉ lợi dụng những hành động sai lầm của Hoa Kỳ đó thôi.

Hoa Kỳ đã dùng bạo lực để cắt ngang hành trình tiến triễn đến tự do của Ba-Tư vào năm 1953 khi họ lật đổ Thủ Tướng Mossadegh, và những hậu quả dài hạn đã tàn phá cả hai quốc gia. Nửa thế kỷ sau, một đám lãnh đạo Mỹ lại ra lệnh xâm chiếm Iraq, với một hậu quả thê thảm so sánh được. Bất chấp những thất bại này, một số trong Hoa Thịnh Đốn vẫn tin tưởng sức mạnh quân sự có khả năng mang đến thay đổi tích cực trong Ba-Tư. Không ai hãi hùng lo sợ về niềm tin trên hơn là đoàn dân yêu chuộng dân-chủ trong nước Ba-Tư, những người đang triễn khai chiến dịch thay đổi đất nước Ba Tư với nhiều rủi ro đến ngay chính tính mạng họ.

“Lẽ dỉ nhiên là chế độ hiện tại ở Ba-Tư đang mang lỗi vi phạm quyền công dân tối thiểu của dân chúng trong nước,” ông Akbar Ganji, một người đối lập Ba-Tư đã bị giam cầm dã man ròng rã sáu năm trời sau khi viết một cuốn sách buộc tội nhân viên chính phủ Ba-Tư đã ra lệnh ám sát những chính trị gia của phe đối lập, đã phát biểu với một người phóng viên vào năm 2007. “Nhưng một cuộc tấn công quân sự, không phải là một phản ứng hiệu quả và cũng không thích đáng… Một cuộc tấn công sẽ gây tai họa cho người dân vô tội ở Ba-Tư và trong khu vực… Nó sẽ khuyến khích sự phát triễn của trào lưu chính thống đạo Hồi Giáo, và châm lại ngòi lửa tin tưởng chính là Công Giáo Judeo truyền thống của phưong tây, dẫn đầu bởi Hoa Kỳ, đang tấn công thế giới Hồi Giáo, từ A-Phú-Hãn và Palestine đến Iraq và Ba-Tư… Hăm dọa quân sự của Hoa Kỳ trong hiện tại đã mang đến cho chính phủ Ba-Tư sự tự do đàn áp những phần tử trong nước đang mong muốn xây dựng một xã hội dân chủ, dưới danh nghĩa an ninh quốc gia, và khiếm khuyết một hướng đi dân chủ mà những người cải cách này thấy họ đang bị giằng co giữa hai sự việc lật đổ nội chính và xâm lược của ngoại bang. Thay đổi chính trị ở Ba-Tư là việc cần thiết, nhưng không thể đạt được bằng sự can thiệp của ngoại bang.”

Cùng trong cuộc phỏng vấn đó, Ganji đưa ra một điểm mà luôn được nêu lên thường xuyên. Ông ta nói, Hoa Kỳ không có uy tín để làm kẻ mang đến nền dân chủ cho Ba-Tư vì vai trò của họ đã trong cuộc phá vỡ nền dân chủ của Ba-Tư vào nữa thế kỷ trước – và vì họ đã hoàn toàn thất bại sau đó trong việc quan tâm đến phát triễn Ba-Tư thành một xã hội dân chính văn minh.

“Tôi tin tưởng phần đông người Ba-Tư đồng chia sẻ một nét nhìn tổng quát về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ,” ông Ganji nói, “Họ đều nghĩ là Ba-Tư chỉ có giá trị về khối năng lượng bao la và vai trò chính trị trong khu vực; còn về những lãnh vực văn hóa, phát triễn kinh tế, hòa bình, phúc lợi và căn bản quyền công dân của người Ba-Tư, đều đa phần là không thích đáng cho những người làm chính sách của Hoa Kỳ… Người dân Ba-Tư không bao giờ quên cuộc đảo chính năm 1953 mà ngươi Mỹ đã trợ giúp lật đổ một chính quyền theo chủ nghĩa dân tộc, ôn hòa, chính phủ dân chủ của Tiến Sĩ Mohammad Mosadegh và thay vào đó đưa dẫn vào một guồng máy chính trị độc tài và khép kín. Xã hội Ba-Tư đã mất đi một cơ hội quan trọng nhất trong lịch sử của đất nước mình để thành lập một nền dân chủ.”

Hoa Kỳ vẫn còn đang trả giá – và là một cái giá khủng khiếp – cho sự can thiệp bằng bạo lực vào Ba-Tư trong những thập niên trước. Nếu bây giờ họ tấn công Ba-Tư, người dân Ba-Tư sẽ không ngừng nhiếc móc họ trong nữa thế ký tới. Những người Mỹ tinh tế nhìn thấy việc này. Giáo Sư A. Rỉchard Norton của trường Đại Học Boston, một chuyên gia có thẩm quyền về những họat động chính trị người Hồi Giáo và cũng là viên cố vấn cho Nhóm Nghiên Cứu Iraq của cả hai phe đảng chính trị Mỹ, đã cảnh báo: “Một cuộc tấn công bởi Hoa Kỳ sẽ phá hoại xoái mòn những tiếng nói thực tiễn trong Ba-Tư, và khuyến khích Ba-Tư làm đời sống vô cùng khó khăn cho người Mỹ ở Iraq và những nơi khác, và có lẽ sẽ gây trở ngại cho việc thương mại dầu thô trên quốc tế.” Milt Bearden, một cựu quan chức CIA, người đã điều khiển cuộc chiến A-Phú-Hãn dưới sự trợ giúp của người Mỹ vào thập niên 1980, đã gọi ý tưởng đó là “khùng”, và chêm thêm, “Gây chiến với Ba-Tư sẽ không mang lại một kết quả lợi ích nào cho bất kỳ ai, ngoại trừ cho chính Ba-Tư”. Ngay cả ông Robert Gates, trước khi trở thành Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng (Secretary of Defense), là một thành viên trong toán nghiên cứu về những lựa chọn của Hoa Kỳ đối với Ba-Tư, đã khuyến cáo nên theo “một chiến lược thay đổi cách tiếp cận” dựa trên giao tiếp và thương thuyết.

Khía cạnh thiết yếu của cách thay đổi tiếp cận là Hoa Kỳ phải lên tiếng đồng ý đàm phán trực tiếp vô điều kiện với Ba-Tư. Chuyện Hoa Kỳ sẵn sàng thương lượng với nhiều chế độ mang đủ tầng lớp ghê tởm, trong khi lại từ chối ngồi xuống với Ba-Tư là một chuyện không chỉ đơn thuần khó hiểu mà còn là một cách tự đánh bại mình. Nhìn tổng quát, thì chính sách đó dựa trên nguyên tắc kỳ quặc: một quốc gia không nên thương lượng với kẻ thù. Những quan chức chính quyền Tổng Thống Bush đã cho biết là họ chống đối đường lối đàm phán rộng rãi với Ba-Tư vì họ không muốn tương thưởng cho những “hành vi xấu xa” của Ba Tư. Thật ra, những quốc gia là kẻ thù của mình và đang có dính dáng với những “hành vi xấu xa”, thì đúng chính xác là những quốc gia cần phải được đàm phán ngay lập tức - đặc biệt là những quốc gia có nhiều quyền lực mang nhiều ảnh hưởng. Và như trong trường hợp của Ba-Tư, đang nằm trong tư thế có nhiều hăm dọa đến nền an ninh toàn cầu. Những đường lối như: bắt nạt, lên án, hăm dọa, đòi hỏi và yêu sách không thể là một nền tảng cho một chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Ba Tư.

Tuy nhiên, có một lý do sâu xa hơn tại sao Hoa Kỳ tự tìm thấy mình không thể thương lượng được với Ba-Tư trong một phần tư thế kỷ vừa qua. Tầng lớp chính trị người Mỹ đã chưa hồi phục từ sự kích động sửng sốt khi bị mất vua Shah, và sự bẻ mặt nhục nhã trong cơn khủng hoảng con tin nhân viên tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Tehran đã bị giam cầm tiếp ngay theo sau đó. Họ lên án chế độ Hồi Giáo cho những xúc phạm này. Một số nhà lãnh đạo trong Hoa Thịnh Đốn nhất quyết phải kéo dài và trì hoãn cuộc trả thù Ba-Tư, còn hơn là xây dựng một liên hệ mới với chính phủ và người dân nước này. Cho đến khi nào Hoa Kỳ nhảy vọt vượt qua được bức chắn tâm lý này, và từ khước sự nóng nảy trong việc đàm phán đứng đắn thực sự với Ba-Tư, thì sẽ không có cải tiến trong mối quan hệ đôi bên.

Cơn khủng hoảng về chương trình hạt nhân càng tăng cao làm chuyện đàm phán càng khẩn trương hơn bao giờ hết. Để có cơ hội thành công, những cuộc đàm phán này phải trực tiếp và song phương, vì chỉ có Hoa Kỳ mới có đủ hạn lực mang đến cho Ba-Tư sự bảo đảm an toàn cần thiết (như một thành phần của bất cứ một hiệp định nào trong tương lai). Những cuộc đàm phán này phải đuợc thành hình vô điều kiện, và cả hai bên đều được khuyến khích phải nêu rõ mỗi vấn đề bất đồng ý kiến. Những cuộc họp giữa các nhà ngoại giao Mỹ và Ba-Tư để thảo luận phương cách làm ổn định Iraq, những cuộc họp đầu tiên từ khi cuộc Cách Mạng Hồi Giáo xảy ra, có thể dùng như là bàn đạp để tiến đến những cuộc hội thảo rộng lớn hơn. Cả hai bên đều ghi nhận những cuộc họp như thế này là “tích cực”, nhưng nó chỉ thật là tích cực nếu nó dẫn đến những cuộc thương lượng bao hàm toàn diện.

Một kiểu mẫu lý tưởng cho những cuộc đàm phán này là dựa theo chính sách của Hoa Kỳ và Trung Quốc đã thực hiện trong thời gian họ hàn gắn mối quan hệ giữa đôi bên vào thập niên 1970. Văn bản đầu tiên xuất hiện trong quá trình này là bản Thông Giao Thượng Hải (Shanghai Communiqué). Một văn bản thật rất dễ nhầm lẫn là quá đơn giãn. Trong đó, không có bên nào đã phải cam kết hay nhượng bộ. Bản thông giao này đơn thuần chỉ là một danh sách của những lo ngại của mỗi bên và một lời hứa cam kết cả đôi bên sẽ thương lượng một cách thật sự nghiêm chỉnh để giãi quyết những mối lo ngại này. Một văn bản tương tự có thể dùng làm đầu cầu cho mối liên hệ giữa Hoa Kỳ và Ba-Tư.

Hai quốc gia có thể lên danh sách những mối lo ngại gì lẫn nhau? Hoa Kỳ chắc chắn sẽ đặt chương trình hạt nhân của Ba-Tư lên hàng đầu danh sách, với sát theo sau là việc Ba-Tư trợ giúp khủng bố trên thế giới. Ba-Tư sẽ nêu lên những chiến dịch của người Mỹ nhắm vào việc làm mất ổn định chế độ hiện tại. Cả hai bên đều tin rằng, phe bên kia đang nuôi dưỡng những mối bạo động trong vùng Trung Đông.

Vượt qua những chuyện này và một số vấn đề bất đồng hiển nhiên, tuy vậy, vẫn có một số việc thật phi thường khi cả hai bên Hoa Kỳ và Ba-Tư sẽ có thể cùng chung ý hướng. Hai quốc gia này không có định mệnh làm kẻ thù lẫn nhau mãi mãi. Thật ra, họ chia sẻ với nhau nhiều mục đích chiến lược và có nhiều tiềm năng trở thành đồng minh. Cả hai đều mong muốn tình hình được ổn định ở Iraq và A-Phú-Hãn. Cả hai đều ghét cay đắng những phong trào của các phe cấp tiến Sunni như Al-Qaeda và Taliban. Cả hai, tuy vì lý do khác nhau, đều muốn an tâm về một đường cung cấp dầu thô đều đặn và bền vững trên thị trường tây phương. Kỹ nghệ dầu thô ở Ba-Tư đang trong tình trạng xuống cấp nguy hiểm và cần hằng chục tỷ đô-la đầu tư; Hoa Kỳ có một ngân khoản dự trử khổng lồ và một niềm khao khát thèm muốn dầu không nguôi.

Người Mỹ sẽ hưởng được nhiều lợi lộc trong mối quan hệ mới với Ba-Tư, đặc biệt là nếu nó dẫn tới sự an bình cho vùng Trung Đông đang trong cơn giận dử điên cuồng xé tan thành mãnh. Ba-Tư cũng sẽ được hưởng lợi. Khoảng cách giữa chế độ và người dân, giống như khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, càng ngày càng đang nới rộng hơn bao giờ trong thời gian vài thập niên qua. Nạn lạm phát không ngừng. Nạn thất nghiệp tràn lan, nhất là trong tầng lớp trẻ. Những tệ nạn xã hội như nghiện ngập và mãi dâm đang hoành hành đến mức độ lên cơn dịch. Những kỹ nghệ “không-dầu-hỏa” dường như không hiện hửu, mà đa phần là do sự kềm chế của chính phủ và thiếu đầu tư của nước ngoài. Trong cái vòng luẩn quẩn không ngừng giữa buộc tội và tố cáo lẫn nhau giữa Hoa Kỳ và Ba-Tư đã ngăn chặn không cho đôi bên cùng thử nghiệm một cách tiếp cận liên hệ mới để cả đôi bên đều hưởng phúc lợi.

Không thể nào chắc chắn được những cuộc thương lượng bao hàm toàn diện giữa Hoa Kỳ và Ba Tư sẽ đưa đến thành công. Nhưng nếu không cố gắng rán sức thử thì đó là một sai lầm lịch sử lớn lao. Hoa Kỳ chỉ cần đơn giản đưa ra một lời đề nghị thành hình một cuộc bàn thảo hỗn hợp, chỉ việc đó thôi có thể sẽ đưa đến một cuộc khủng hoảng nho nhỏ trong nội bộ chính phủ hiện tại của Ba-Tư. Với những người phe lập trường bảo thủ (hard-liners) tranh đấu với những người phe tiên tiến thực tiễn (pragmatists) qua việc có chấp thuận đề nghị đó hay không.

Một khi những cuộc thương lượng bắt đầu, cách duy nhất dẫn đến cho họ thành công là bằng một thỏa hiệp dung hòa, và đó là một chuyện mà cả hai bên đều chưa đồng chấp thuận trong hiện thời. Mặc dầu thế, đó sẽ là trọng tâm cho những cuộc thương lượng. Mở đường lối thương lượng bao hàm toàn diện với Ba-Tư không phải là một sự tương thưởng cho những “hành vi xấu xa” mà là một sự tìm kiếm cho những đáp án có thể hòa giãi xung đột bất định, và góp phần vào nền an ninh toàn cầu.

Cách duy nhất có thể mong đợi hợp lý với việc Ba-Tư hạn chế những hoài bảo hạt nhân là qua một “thỏa thuận rộng rãi”, mà trong đó có đề cập những mối lo ngại về an ninh của chính quốc gia họ. Chuyện đó có thể sẽ bắt buộc một giãi đáp vượt ngoài biên giới của Ba-Tư và thành lập một cấu trúc an ninh mới cho vùng Trung Đông. Nó không có hợp lý mong đợi Ba-Tư bãi bỏ chương trình hạt nhân của họ, một khi mà kẻ thù chính của họ trong vùng là Do Thái, và kẻ thù chính của họ trên thế giới là Hoa Kỳ, đều võ trang với vũ khí hạt nhân và đang phát ra những lời hăm dọa uy hiếp tuôn trào không cần che dấu đến nước Ba-Tư.

Một hòa ước mà những người đàm phán có thể xem xét để làm thí dụ là văn bản hòa ước đã được ký kết bởi Hoa Kỳ và Bắc Triều Tiên vào năm 2007. Để trao đổi cho lời hứa của Bắc Triều Tiên sẽ chấp nhận sự “dẫn đến việc bãi bỏ” chương trình hạt nhân của họ, Hoa Kỳ đã chấp nhận “đi đến quan hệ ngoại giao toàn diện” với Bắc Triều Tiên; giảm bớt những hình phạt kinh tế đối với chế độ Bắc Triều Tiên; “bắt đầu tiến hành” rút tên Bắc Triều Tiên ra khỏi danh sách của những quốc gia trợ giúp khủng bố và danh sách của những quốc gia với những giao dịch thương mại bị cấm bởi “Đạo Luật Giao Thương với Kẻ Thù” (Trading with the Enemy Act); và thành lập những nhóm đặc phái của chính phủ để làm việc thương lượng việc bãi bỏ vũ khí hạt nhân trong vùng và một “cơ chế an ninh và nền hòa bình trong vùng đông bắc Á Châu.” Nếu những nguyên tắc này có thể thành hình một hòa ước giữa Hoa Kỳ và Bắc Triều Tiên, thì nó có thể áp dụng vào Ba-Tư, một nước có nhiều tiềm năng đóng góp phần vào – hay xoáy mòn hủy hoại - nền an ninh toàn cầu hơn là Bắc Triều Tiên.

Để đạt đến mục đích thành công dài hạn, chiến lược xúc tiến ngoại giao của người Mỹ phải bao hàm rộng rãi hơn ngoài việc chỉ đàm phán với chế độ này. Trước khi Ba-Tư trở thành ổn định và dân chủ, người dân trong nước phải có một giai cấp trung lưu đa số và bền vững. Đây trở thành một hành động khẩn cấp cho Hoa Kỳ phải xúc tiến quảng bá tất cả hạng loại giao dịch, từ xã hội, chính trị, đến kinh tế với mỗi tầng lớp dân chúng trong xã hội Ba-Tư. Trong không khí đổi mới này, những doanh nghiệp của người Mỹ thay vì bị cấm giao thương với Ba-Tư sẽ được khuyến khích và cổ võ. Thay vì hạn chế chặt chẻ con số cấp giấy phép chấp thuận cho nhập cảnh đối với người Ba-Tư, Hoa Kỳ cần phải làm ngược lại: mời càng nhiều người Ba-Tư nhập cảnh vào Hoa Kỳ càng tốt, và tràn ngập nước Ba-Tư với người Mỹ, từ học sinh, giáo sư, nông dân, và thương gia, đến văn sĩ và nghệ sĩ.

Ba-Tư đang rất sẳn sàng để lợi dùng lối giao tiếp này. Họ đang có một xã hội phát triễn mạnh mẻ và khát khao được giao dịch tiếp xúc với thế giới bên ngoài, và đây cũng là một xã hội có ý thức dân chủ dài trên một thế kỷ. Như đã thấy một cách đau đớn với sự thất bại ở Iraq, nền dân chủ không thể cài đặt vào một quốc gia từ bên ngoài. Dân chủ không phải là một lề lối sống mà là một phương cách xúc tiến để giãi quyết nhiều vấn đề. Trong bất cứ xã hội nào, ý thức về giá trị của nền dân chủ đều được nẩy mầm, đâm chồi, phát triễn trong quá trình từ từ và chậm rãi. Không giống như những nước láng giềng của mình, Ba-Tư đã và đang tiến tới nền dân chủ từ khi họ chọn hiến pháp đầu tiên cho nước họ cách đây hơn một thế kỷ trước. Hiến pháp của Ba-Tư đã không luôn luôn được tuân thủ, và những cuộc bỏ phiếu ở Ba-Tư không luôn luôn được công bằng. Mặc dầu vậy, qua một thời gian dài này, người dân Ba-Tư đã mở mang ý thức với một tầm hiểu biết sâu sắc về cái ý nghĩa của một nền dân chủ. Đa số khao khát nó. Phần đất gây mầm cho hạt giống dân chủ biến đổi Ba-Tư nhiều hơn hầu hết các nước Hồi Giáo khác. Một chuyện không thể tin được, nhưng sự thật là đa số người dân ở Ba-Tư đều còn giử lại một niềm ngưỡng mộ khâm phục đối với Hoa Kỳ. Các nhà lãnh đạo Mỹ nên lợi dụng ưu thế này trong quá trình thành hình chiến lược ngoại giao với Ba Tư

Cái ý tưởng tấn công Ba-Tư và tìm cách chặt đứt chế độ hiện tại tin theo một giả thiết vô cùng nguy hiểm: đó là dù chế độ nào đến sau này, cũng vẫn khá hơn cái chế độ trước mắt. Người dân Ba-Tư đã có kinh nghiệm từng trãi để bác bỏ niềm tin này. Vào những năm cuối của thập niên 1970, họ đã đoàn kết lại cùng nhau - những người cộng sản, những chính thể tôn giáo, những đảng viên tự do đang sùng bái ông Mossadegh - lật đổ vua Shah. Họ đã làm thế vì họ tin theo cái giã thiết là cho dù chế độ nào đến tiếp nối theo sau cũng phải tốt hơn cái chế độ hiện tại. Đa số bây giờ bọn họ đều khẳng định rằng, đó là một điều sai lầm khủng khiếp.

Một số người ở Hoa Thịnh Đốn bàn cải rằng bất cứ chế độ nào vào thay thế ở Ba-Tư đều là một sự cải thiện tốt hơn với chế độ hiện tại - chế độ mà những nhà giáo sĩ lãnh đạo chuyên đàn áp và bài ngoại. Họ sai lầm một cách nguy hiểm. Một cuộc tấn công vào Ba-Tư sẽ đưa nước này vào hỗn loạn như đã bao trùm Iraq. Trong môi trường vô chính phủ này, sẽ không có chính quyền trung ương để kềm chế những phần tử cấp tiến bạo động. Đáng sợ hơn hết là những phần tử này có thể bao gồm những khoa học gia và chuyên gia kỹ thuật hạt nhân. Cơ hội mà những người Ba-Tư này có thể dùng sự hiểu biết về kỹ thuật trên để chuyền đến tay những kẻ khủng bố loại vũ khí sát hại tập thể, sẽ tăng lên nhiều lần so với sau khi bị một cuộc tấn công hơn là tình thế trong hiện tại. Thả bom tàn phá những trung tâm chế tạo hạt nhân ở Ba-Tư – đặt trường hợp là tất cả đều tìm được – cũng chỉ l à một giãi đáp tạm trong nhất thời. Giãi pháp này hầu như chắc chắn là sẽ mang đến thêm nhiều sự hăm dọa hãi hùng hơn từ phía Ba-Tư của ngày hôm nay. Trong chức nhiệm là Giám Đốc của Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (Director of International Atomic Energy Agency), ông Mohammad Albare-dei thường hay chú giãi: công trình kiến trúc đều có thể bị tấn công và tàn phá, nhưng “chúng ta không thể thả bom để tiêu diệt kiến thức”.

Vào năm 1953, bằng bạo lực Hoa Kỳ đã đẩy Ba-Tư ra ngoài lề con đường dẫn đến một nền dân chủ, và đã tạo nên một trôn xoáy mất ổn định, dẫn đến những năm sau đó với những hăm dọa không tưởng tượng đến được. Một chiến dịch dài hạn của người Mỹ với những cô lập, áp lực, và cảnh cáo đã không mang lại thay đổi gì trong những hành vi của Ba-Tư. Tiếp tục đường lối đó sẽ có nghĩa là sự căng thẳng tăng lên đều đều, mà một số người ở Hoa Thịnh Đốn tin rằng sẽ đưa đến cực điểm của một cuộc tấn công quân sự. Một cuộc tấn công như thế sẽ dẫn đến một thời kỳ nỗi dậy chấn động trong Ba-Tư và toàn khu vực, nhưng lần này sẽ được bao trùm với một nét khiếp đảm của vũ khí hạt nhân.

Điệp Vụ Ajax (Operation Ajax), tên của điệp vụ mà cơ quan tình báo CIA dùng trong âm mưu lật đổ Thủ Tướng Mossadegh, đã mang đến một tấn thảm kịch khôn lường cho Ba-Tư, góp phần vào sự đưa lên phong trào khủng bố chống đối người Mỹ, và cuối cùng, làm suy yếu trầm trọng nền an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Rất ít sự kiện trong lịch sử của thế thứ 20 gây được sự tóm tắt hoàn hảo hơn về khái niệm “phản tuyên truyền” (“blowback”) trong khuôn khổ chính sách đối ngoại. Ngày nay, những ngôn ngữ chống đối Ba-Tư càng lúc càng được gióng cao, thì sự việc càng rất cấp bách hơn cho người Mỹ hiểu về cái tai hại khốc liệt đã thành hình ra sao trong lần sau cùng nước Hoa Kỳ tấn công Ba-Tư. Hoa Kỳ nên suy nghĩ cân nhắc câu hỏi: “Hoa Kỳ có trách nhiệm luân lý gì đối với Ba-Tư trong cái thức tỉnh của lịch sử đau thương này?”

Bằng cách chấm dứt một phần tư thế kỷ cay đắng chống đối mà người Mỹ đã mang nặng với Trung Quốc, Tổng Thống Richard Nixon cho thế giới thấy một khả năng nhận thức sắp đặt lại cán cân của sức mạnh toàn cầu. Cuộc đánh bạc của ông ta đã tạo hình dáng mới cho dòng lịch sử. Hiện nay thế giới đang kêu gọi một nhà lãnh đạo Mỹ có khả năng táo bạo sánh ngang như vậy. Một người có thể hình dung được một mối quan hệ giữa Ba-Tư và Hoa Kỳ hoàn toàn khác xa mối quan hệ đã và đang tồn tại từ năm 1979.


Dịch bởi Alexander Le

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2009

Cuộc Chiến Việt Nam của Tổng Thống Obama

“Obama’s Vietnam” by John Barry & Evan Thomas
Newsweek, February 9, 2009
Translated by Alexander Le




Khoảng một năm trước, trên chương trình TV nói chuyện về khuya của Charlie Rose, khi phỏng vấn Trung Tướng Douglas Lute, Cố Vấn Quân Sự tại Tòa Bạch Ốc với trách nhiệm phối hợp nỗ lực trong nước A-Phú-Hãn (Afghanistan) và Ba-Tư (Iraq), đã nói “Chúng ta chưa bao giờ bị đánh bại về chiến thuật trong các trận súng lửa ở A-Phú-Hãn,”. Câu phát biểu này mang một âm vang đáng sợ, cho ngay đến cả những học sinh sơ cấp về Chiến Tranh Việt Nam. Trong nhiều năm sau cuộc chiến, một trong những câu trao đổi biểu tượng về trận chiến Việt Nam giữa Đại Tá Harry Summers, một lịch sử gia quân sự, và một đối tác từ Quân Đội Bắc Việt: theo hồi tưởng của ông Summers, ông đã nói, “Các anh chưa bao giờ đánh bại chúng tôi trên trận mạc.” Người sĩ quan của Quân Đội Bắc Việt đã đáp lại: “Chuyện đó có thể là đúng. Nhưng, nó cũng không còn nghĩa lý gì.”

Những điểm tương tự với trận chiến Việt Nam có thể ngấy chán. Đối với những nhà phê bình, đặc biệt là những kẻ thiên tả thì tât cả những can thiệp của người Mỹ đều có tiềm năng trở thành “những cuộc sa lầy”. Nhưng thỉnh thoảng những lời sáo ngữ này lại hiện thật, và đặc biệt là trong thời gian gần đây, dường như trận chiến ở A-Phú-Hãn đang hình thành với những đường lối đã quá quen thuộc. Sự song song giống nhau thật là đáng lo ngại: một tổng thống háo hức muốn cho thấy sự cứng rắn của ông ta, nguyền sẽ làm những gì cần thiết để “chiến thắng”. Một quốc gia mà chúng ta cho là cần cứu giúp, không phải là một quốc gia hoàn toàn, mà là một chính quyền chia rẽ trầm trọng, một chính quyền có khả năng trở thành bất khả dụng (semi-failed state), cùng với sự bất tài và tham nhũng mà được coi là không hợp pháp với đa số người dân trong nước. Kẻ thù địch quân rất quen thuộc với chiến dịch kháng chiến chống lại quân xâm lược và có phương tiện tránh thoát tiện lợi thích hợp bằng phương cách băng qua bên kia biên giới. Quân lực Mỹ bị kềm chế trong công cuộc tấn công vào những nơi trú ẩn này. Trong khi đó, những quốc gia láng giềng có thể dùng cơ hội này để dìm Mỹ Quốc vào một trận chiến tranh đắc giá. Và cuối cùng là… không có một lối thoát dễ dàng.

Đúng thật, là có những sự dị biệt giữa trận chiến A-Phú-Hãn và Việt Nam. Là một đối thủ, quân Taliban không hùng mạnh và đoàn kết như quân Việt Cộng. Mặt khác, Việt Nam đã không ở tư thế tạo được một mối lo ngại trực tiếp cho nền an ninh quốc gia của Hoa Kỳ; ngay cả những người tin tưởng vào thuyết Domino cũng không nghĩ rằng sẽ thấy quân Việt Cộng đánh giặc ngay trên thành phố San Francisco. Ngược lại, tuy không phải là trực tiếp quân Taliban, nhưng cũng là những người khủng bố được huấn luyện bởi họ, đã tấn công vào thành phố Nữu Ước (New York) và Hoa Thịnh Đốn (Washington, D.C.) vào năm 2001. A-Phú-Hãn lúc nào cũng được xem là một cuộc chiến cần thiết và xác đáng để nhúng tay vào – không giống như (theo nhiều người) trận chiến Ba-Tư. Trong tương lai có thể hình dung được, Đại Tướng David Petraeus, người đã kiến trúc thành công sự vươn lên của Ba-Tư, và hiện tại đang là chủ chốt của Trung Tâm Chỉ Huy điều khiển trận chiến A-Phú-Hãn, sẽ có thể mang lại một sự thay đổi phi thường.

Riêng trong vòng kín đáo thân mật, ông Petraeus đã từng lên tiếng không chấp nhận được sự so sánh cuộc chiến hiện tại với cuộc chiến ở Việt Nam. Ông ta không tin vào chuyện “suy diễn theo lịch sử tương tự” (“history by analogy”) như là một lý do để tránh né nắm lấy những phức tạp ở A-Phú-Hãn. Nhưng, trong cái nổi bật của sự tương tự đó là: ở A-Phú-Hãn, cũng như ở Việt Nam, chúng ta có thể phải đối diện với trường hợp chúng ta có thể thắng hết tất cả chiến trận (battles), nhưng vẫn không thể nào thắng được trận chiến (war) – ít nhất là trong giới hạn của thời gian và phí tổn mà nhân dân Hoa Kỳ có thể chấp nhận được.

Một loạt những báo cáo, chính thức và không chính thức, từ các nhà ngoại giao và quân lính phía Mỹ, cũng như từ phía những nước ngoài (ngay cả từ A-Phú-Hãn) trong hiện tại và quá khứ, tất cả đều đồng ý: tình hình ở A-Phú-Hãn đang càng tồi tệ và trở nên sa sút hơn. Vào khoảng 4 thập niên trước, những nhà tổng thống Mỹ đã quen nghe những báo cáo ảm đạm tối tăm từ Việt Nam, mặc dầu là những tin tức thông báo cho quần chúng thì được tô vẻ cho sáng sủa và khá hơn. John F. Kennedy lo âu cho đến cuối ngày tàn của ông về chuyện bị sa lầy ở một vùng đất xa xôi của Châu Á; LBJ (Lyndon B. Johnson - tổng thống nối ngôi ông Kennedy) thì đã bị ám ảnh bởi những cơn ác mộng về “Bác Hồ”. Trong giới quân sự, xưa cũng như nay, thì con số những người lưỡng lự và nghi ngờ đang tăng lên đáng kể. Nhưng cái câu trả lời muôn thuở để trở thế cờ của những người quân nhân cao cấp trong Quân Đội Hoa Kỳ cũng chỉ là “Có thể làm được, thưa thượng cấp!”, và đó là cái đèn báo hiệu đang nhấp nháy cho tình hình hiện tại. Ở A-Phú-Hãn, cũng như ở Việt Nam, khi nào có nghi ngờ thì giãi pháp tự nhiên là cho cuộc chiến leo thang. Hiện tại đang có 30,000 binh lính Mỹ ở A-Phú-Hãn. Chính-phủ ra-đi của ông Bush cũng như chính-phủ tiếp-nối của ông Obama đều biểu lộ sự đồng ý trên vịêc số quân này cần phải được tăng gấp đôi trong thời gian một năm nữa (hay khoảng gần đó).

Chắc chắn rằng con số 60,000 quân là còn rất thấp xa so với con số nửa triệu quân đã được gửi đến Việt Nam vào thời điểm tột đỉnh của cuộc chiến tranh này; và con số 642 quân lính Mỹ đã tử vong được duy trì đến thời điểm này là thật lu mờ dưới sự so sánh với con số tử vong 58,000 quân ở Việt Nam. Mặc dầu thế, hãy cân nhắc suy xét theo khía cạnh này: đó là một con số tử vong cao hơn số tử vong của lính Mỹ sau thời gian trong cả 9 năm đầu tiên Hoa Kỳ liên lụy đến trận chiến Việt Nam. Và thêm một điều khắc khoải đáng lo nữa là không có một ai trong chính-quyền ra-đi và chính-quyền tiếp-nối cho biết được nhiệm vụ và sứ mệnh của số quân lính bổ sung là gì, ngoài trừ giống như là một loại dụng cụ cứu thương dùng để cầm máu (tourniquet) trong thời gian chờ đợi một ai đó sẽ nghĩ ra một chiến lược khả thi. Câu hỏi khó trả lời nhất là: liệu có một chiến lược nào sẽ thành công hơn trong tình trạng của thời thế hiện tại?

Tuy là còn quá sớm để nói Tổng Thống Obama sẽ có những hành động gì ở A-Phú-Hãn, nhưng có một vài dấu hiệu - khó đọc một cách quả quyết, tuy nhiên cũng có tính chất gợi ý – là sự thật đang bắt đầu chìm lắng vào tâm tư của ít nhiều nhân vật quan trọng của chính quyền mới. Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng Robert Gates, một nhân vật được giữ lại từ chính quyền Bush, lo lắng sự gia tăng con số giầy bottes de saut của quân đội Hoa Kỳ trên A-Phú-Hãn chỉ sẽ quạt tăng lên ngọn lửa ác cảm của người dân địa phương đối với người ngoại quốc. “Chúng ta cần phải rất thận trọng về thực chất của những mục đích chúng ta đặt ra cho chính chúng ta ở A-Phú-Hãn,” ông ta đã nói với một hội đồng dân biểu tuần vừa qua. “Sự lo lắng của tôi là nếu người dân A-Phú-Hãn xem chúng ta như một phần thể của vấn đề, thay vì một phần thể của đáp án, thì như thế kể như chúng ta đã thất bại.”

Việt Nam trước đây trong chỉ nữa vòng trái đất xa cách mà đã dường như là rất xa lạ với nhiều người Mỹ và đa phần những người phương Tây. Thế thì ngày nay, A-Phú-Hãn sẽ như là mặt trăng đối với họ. Ít nhất Việt Nam cũng từng là thuộc địa của Pháp quốc, mặc dầu là một thuộc địa có nhiều rắc rối và bất an. A-Phú-Hãn đã phản kháng sự tiến chiếm làm thuộc địa của ngoại bang, đuổi quân xâm lược Anh vào thế kỷ 19 và Nga vào thế kỷ 20 với nhiều hiệu quả rất tương xứng . “A-Phú-Hãn không phải là một quốc gia, mà nó là một bộ sưu tập của nhiều bộ lạc”, theo một nhà ngoại giao Ả-Rập (Saudi Arabia) (muốn được giấu tên vì không muốn làm mất thể diện một nước Hồi Giáo láng giềng). Ở Việt Nam, chính phủ Ngô Đình Diệm đã bị coi là không chính đáng một phần vì do ông Diệm theo đạo Công Giáo trong một nước với đa số dân chúng là người Phật Giáo, và chính quyền này được dựng lên bởi chính phủ Hoa Kỳ. Ở A-Phú-Hãn, chính quyền (hiện tại) Hamid Karzai đã được thành lập trong sự cần kiếp của thời cuộc bởi chính phủ Hoa Kỳ. Quân lực Hoa Kỳ cùng với những tư lệnh của các đảng phái quân đội địa phương, được hỗ trợ bằng không lực của Mỹ, đã đánh đuổi chế độ Taliban vào năm 2001. Mặc dầu Tổng Thống Karzai đã được bầu ủy nhiệm chính thức vào năm 2004, nhưng vào thời điểm này ông ta đã được sự hậu thuẩn rỏ ràng của chính quyền Mỹ, và trong cuộc bầu cử đó ông ta không có những phe đảng đối thủ thật sự.

Giống như chế độ ông Diệm ở Việt Nam, tham nhũng trong chính quyền hiện tại đang đạt đến mức huyền sử; ngay cả ông Karzai cũng đã nói thế. “Những ngân hàng trên thế giới đang giữ đầy tiền của những chính khách đất nước tôi” ông ta đã tuyên bố trong tháng 11 vừa qua. Ông Ashraf Ghani, cựu tổng trưởng bộ tài chính của chính quyên Karzai, đã xếp hạng chính quyền củ của ông ta là “một trong năm chính quyền tham nhũng nhất trên thế giới” và cảnh báo nước A-Phú-Hãn đang trở thành “một quốc gia xã-hội-đen-ma-túy bất-khả-dụng” (“a failed, narco-mafia state”). Trong một nước có tỷ lệ 7 người trong 10 người sinh sống với khoảng 1 đô-la (U.S Dollar) một ngày, vậy mà một gia đình trung bình hàng năm lại phải trả khoảng 100 đô-la tiền baksheesh, hay là tiền hối lộ (mà ở Việt Nam gọi là “tiền trà” hoặc là “tiền café”). Tiền trợ giúp của nước ngoài là loại tiền thu nhập thông dụng nhất ở A-Phú-Hãn, chỉ xếp hạng sau tiền ma-túy. Nhưng theo sự suy đoán rộng rãi của các giới chức trách thì vì lý do trộm cắp và phương cách quản lý tồi tệ ở Kabul (thủ đô của A-Phú-Hãn) cho nên ít hơn phân nửa số tiền viện trợ của ngoại quốc thật sự tìm được đúng đường đến những dự án đề ra, và chỉ có một phần tư là đến được các vùng thôn quê, nơi mà có 70% dân số cả nước sinh sống.

Đối với A-Phú-Hãn bây giờ, cũng như Việt Nam hồi trước, chính quyền thường là một lực lượng chuyên quyền độc đoán, đáng để sợ hải hơn là một cơ quan bảo vệ nhân ái và công bằng. Thường dân ở Việt Nam hay lo sợ làm phật lòng người nào đó có quyền lực thế cao, và người đó lúc nào cũng có thể bắt họ trao cho người Mỹ với tội danh là cảm tình viên của kẻ thù; sự sợ hải tưong tự đó đang lan tràn khắp trong nước A-Phú-Hãn hiện nay. Khi quân lực Hoa Kỳ đã mau lẹ đập tan chế độ Taliban sau vụ 9/11, nhiều người A-Phú-Hãn đã vui mừng chào đón họ, với thâm tâm là những người Mỹ hùng mạnh này sẽ biến đổi hết đường xá, trường học và kinh tế trong nước họ. Hiện nay, cay đắng đã bắt đầu thành hình. “Người dân A-Phú-Hãn đã nhận được gì từ quân lực liên minh?” Zamir Kabulov, nhà Đại Sứ Nga ở A-Phú-Hãn, đã hỏi. “Họ sống rất nghèo nàn trước đây, và họ vẫn sống trong sự nghèo nàn đó trong hiện tại – nhưng thỉnh thoảng họ lại còn bị thả bom vì lầm lẩn.”

Xây dựng quốc gia ở A-Phú-Hãn có thể là một mục đích không thành tựu được. Những thời gian an bình được đặt dưới một nền thống trị trung ương đã không có nhiều và cách khoảng quá xa. Bạo lực là chuyện bình thường, như lịch sử đã cho thấy về vị vua đế quốc Ba-Tư (Persian king) Nadir Shah, vào thế kỷ thứ 18, sau khi đàn áp một cuộc nỗi dậy đã chặt đầu 6,500 người bộ tộc (số mệnh của những người này đã được định bằng cách bóc thăm). Ông ta đã cho sắp đặt những chiếc đầu này thành một kim tự tháp với xác một người chủ mưu được chôn ngay ở trung tâm của đài đầu lâu này. Nhà ngoại giao Ả-Rập đã chính xác nêu lên quan điểm này: đặc biệt là qua vùng vòng đai, địa bàn của tộc Pashtun ở miền Nam A-Phú-Hãn, những lãnh tụ địa phương có nhiều ảnh hưởng hơn bất kỳ ai đang nắm quyền lực chính phủ ở Kabul. Người Taliban có thể là không chiến đấu cho một quốc thể đích chính, như người Việt Cộng đã làm. Nhưng họ chắc chắn thiên về ảnh hưởng của địa phương, biết nhiều về nguồn rễ của những lực lượng này hơn đoàn quân liên minh đang được lãnh đạo bởi Hoa Kỳ.

Câu thần chú căn bản của phản khởi nghĩa hay phản kháng chiến (counterinsurgency) là: “quét sạch, giữ vững và xây dựng”. Quét sạch vùng có quân khởi nghĩa, kháng chiến quân. Giữ vững để đám quân này không quay trở lại được. Xây dựng hạ tầng cơ sở, quyền công dân và cơ cấu chính phủ để cộng đồng quyết định hỗ trợ chính phủ. Đó là một đường lối cải tiến mạch lạc và chặt chẽ. Nhưng trong lúc binh lính liên minh có thể quét sạch hay hơn kháng chiến quân Taliban, họ lại đơn thuần không giữ vững được như kẻ thù của họ. Sự thật là chính quân lực Taliban đang tiến triễn rất tốt về công tác phản kháng chiến – “quét sạch, giữ vững và xây dựng” là những chuyện họ đang làm khắp miền nam A-Phú-Hãn. Loại công lý hà khắc của họ lôi cuốn được nhiều người A-Phú-Hãn vì dân chúng khắp nơi khao khát một nền trật tự và an ninh. Trong một vài khu vực, những cấp lãnh đạo Taliban còn khôn ngoan nới lỏng những luật lệ không được thịnh hành trước đây (theo luật đạo giáo của họ), thí dụ như việc cho phép các em gái được đi học. Tháng trước, Hội Đồng Quốc Tế về An Ninh và Phát Triển (International Council on Security and Development – ICOS), một hội đồng thận trọng, từ tốn và rất được kính nể toàn cầu, đã báo cáo cho biết lực lượng Taliban “hiện nay đang thường xuyên chiếm giữ 72% của nước A-Phú-Hãn, gia tăng từ 54% của một năm trước”. Họ đang chuyển mũi dùi đến Kabul; theo bản báo cáo của ICOS “ba trong bốn đường đại lộ chính ở Kabul đang bị tổn hại bởi sự hoạt động của Taliban”.

Phía Taliban cũng có một nguồn tài nguyên mà phe Việt Cộng không bao giờ được hưởng thụ: một luồng thu nhập vững bền qua sự mậu dịch quy mô về nha phiến của A-Phú-Hãn. Sản xuất của cây thuốc phiện của xứ sở A-Phú-Hãn chiếm khoảng 93 phần trăm của tổng số thuốc phiện trên thế giới. Mặc dầu trên danh nghĩa, sự bài trừ tiệt rễ vấn đề này đang là một ưu tiên hàng đầu từ năm 2004, nhưng dịch vụ cày cấy và trồng trọt cây thuốc phiện vẫn tăng trưởng trên gấp đôi. Không thể nào chiêu dụ nỗi nông dân đổi sang trồng loại vụ mùa khác được, trừ khi là họ tin tưởng lực lượng Taliban sẽ không trở lại giết họ để trừng trị. Và thêm nữa, họ cần có những lộ trình đi lại an toàn để mang những vụ mùa hợp pháp đến những chợ búa đang họat động. Người Mỹ không có đủ con số binh lính - kể cả của họ và của những binh lính càng ngày càng vỡ mộng của lực lượng NATO (North Atlantic Treaty Organization - Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương) - để thiết lập an ninh cho toàn bộ đường xá và khu vực nông thôn. Đó không phải chỉ là vì diện tích rộng lớn của A-Phú-Hãn (tương tự với tiểu bang Texas, Mỹ), nhưng cũng vì một chiến lược thất bại, (được gợi nhớ đến) như chiến lược ở Việt Nam.

Trên căn bản, Mỹ quốc đã và đang cố gắng thống nhất đất nước A-Phú-Hãn bằng chiến dịch phản kháng chiến. Hậu quả là đa số quân tinh nhuệ và sáng giá nhất của quân đội Hoa Kỳ - Lực Lượng Đặc Biệt – đã bị lạm dụng và xử dụng sai lầm. Phần lớn mọi người đều nghĩ đến Lực Lượng Đặc Biệt là những chiến binh tinh nhuệ với những cú nhảy ra khỏi trực thăng trong những mật vụ nguy hiểm. Nhưng thật ra, cho đến lúc Tổng Thống George W. Bush phát động cuộc Chiến Tranh Khủng Bố Toàn Cầu của ông ta – và Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng Donald Rumsfeld trao cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân Đặc Biệt (Special Operations Command) vai trò lãnh đạo - nhiệm vụ của họ (và có thể tranh cải là mang lại nhiều lợi ích hơn) là huấn luyện tăng tiến cho những quân đội trong các nước đang phát triễn. Ở Việt Nam, lực lượng Mũ Xanh (the Green Berets) đã được đưa vào miền cao nguyên vào thời gian đầu của trận chiến với đặc vụ là huấn luyện những người dân bộ lạc bản xứ thành những chiến sĩ du kích (và họ đã rất thành công).

Mặc dầu thế, sau năm 1972, lực lượng đặc biệt này đã bị hoán chuyển qua những nỗ lực không thành công trong công tác chính là niêm phong và trám lỗ những biên giới tiền tuyến trên miền Nam Việt Nam. Tưong tự như vậy, Lực Lượng Đặc Biệt ở A-Phú-Hãn phần đông được dùng như những đội quân tác chiến dùng để đánh đuổi theo những cấp lãnh đạo của Al Qaeda và Taliban – hay là triển khai dọc theo đường biên giới 1,400 dậm (2,240 cây số) trong nỗ lực chặn đứng kháng chiến quân từ Pakistan – mà không phải là để huấn luyện lực lượng quân đội A-Phú-Hãn. “Sự phát triễn của lực lượng an ninh A-Phú-Hãn rất tồi tệ trong cung cách cai quản, thiếu nhân viên trầm trọng, và nghèo nàn trong quá trình tài trợ lộn xộn bừa bãi”, đó là lời kết luận của nhà phân tích Anthony Cordesman từ Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế (Center for Strategic and International Studies) trong một buổi thuyết trình với những lảnh đạo dân biểu đảng Dân Chủ vào tháng Giêng. Ngay cả việc tài trợ cho sự phát triển của lực lượng A-Phú-Hãn, Hoa Kỳ cũng đã không thật sự triễn khai cho đến năm 2007.

Ngay cho đến nay, Mỹ và liên minh NATO của họ đã cung cấp ít hơn phân nửa số huấn luyện viên cần thiết ở A-Phú-Hãn; và nhiều người trong số này không có kỹ thuật chuyên môn. Hậu quả là quân đội A-Phú-Hãn quá nhỏ và quá xoàng trong việc đào tạo huấn luyện để có thể tiếp quản nhiệm vụ kháng cự lại kháng chiến quân, mà đó là nền cấu tạo chính của trận chiến thật sự ở A-Phú-Hãn. Quân đội A-Phú-Hãn đang bắt đầu triễn khai tốt hơn, nhưng với một tiến trình rất chậm. Những nhân vật Chỉ Huy Trưởng của Hoa Kỳ kín đáo bàn luận rằng… có thể 5 năm hoặc nhiều hơn nữa, những đơn vị này mới hoạt động và hành quân trong độc lập được. Đạo quân Cảnh Sát của A-Phú-Hãn, vẫn còn đang là một thảm hại và rốt cuộc quân lực Hoa Kỳ vẫn phải trám vào khoảng trống không này.

Như ở Việt Nam, những nỗ lực niêm phong biên giới đã không thành công. Phía Taliban, giống như Bắc Việt Nam, chủ yếu tùy thuộc vào các tuyến tiếp viện và các nơi ẩn nấu ngay bên phần đất vượt biên giới. Cũng giống như quân đội Bắc Việt (North Vietnamese Army - NVA) đã có thể di chuyển lên xuống đường mòn Hồ Chí Minh thông qua Lào, phía Taliban có thể biến dạng qua những rặng núi và thoát qua vùng biên giới vô kỷ cương của Pakistan. Những nơi trú quân an toàn này đã cho họ vùng không gian vô giá để huấn luyện và tái thiết bị và tiếp tế. Những chiến sĩ Taliban sẵn sàng quyết tâm chiến đấu hơn, khi họ biết gia đình họ đang được an toàn ở Pakistan, và ngay chính họ cũng có thể rút quân về đó nếu bị thương vong. Một chỉ huy trưởng của Taliban ở Pakistan đã cho binh lính của ông ta năm số điện thoại di động để gọi cứu viện nếu họ bị bắn trong khi chiến đấu với binh lính Hoa Kỳ bên kia biên giới, với lời hứa là họ sẽ được di tản và cứu thương trong cấp bách.

Người Mỹ lại phải rất cẩn thận khi rượt đuổi phe Taliban vào những nơi ẩn nấu của họ. Ở Việt Nam, các chiến lược gia Mỹ lo âu về chuyện đưa Nga Sô hoặc Trung Quốc vào cuộc chiến nếu họ thả bom quá tự do vào Hà Nội và những vùng lân cận (thí dụ như đánh chìm một chiếc tàu hàng của Nga trong hải cảng Hải Phòng). Ở Pakistan, người Mỹ lo âu một cú can thiệp mạnh tay có thể sẽ làm nền chính phủ hiện tại bị mất ổn định… và đó là một nước bài đầy rủi ro đối với một quốc gia đang có vũ khí hạt nhân trong tay. Chính quyền Pakistan có sang sẽ tin tức tình báo về những mục tiêu Al Qaeda – và cũng có lúc phát động những cuộc tấn công vào chiến sĩ Pakistani Taliban dọc theo biên giới – nhưng đồng thời, những nhân viên của cơ quan tình báo Pakistan ISI đã có tạo những liên minh mật thiết với những người trong bè phái Taliban. Pakistan duy trì một chiến lược mang lợi ích riêng cho họ, qua sự thế giữ tình trạng một nước A-Phú-Hãn yếu kém. Người A-Phú-Hãn đã triễn khai một mối quan hệ ràng buộc trọng yếu với kẻ thù không đội trời chung của Pakistan là Ấn Độ. Và một lý do khác là nhiều người lãnh đạo Pakistan đã bị thuyết phục tin tưởng rằng… người Mỹ cuối cùng rồi cũng sẽ ra đi khỏi khu vực lãnh địa, cho nên họ phải nắm cái thế thủ cho cú cá độ này vì tương lai đất nước của họ.

Ở Việt Nam, nước Mỹ đã lo ngại về vấn đề nhạy cảm là người Nga và người Trung Quốc làm hậu thuẩn cho Bắc Việt Nam (có người cho đó là sự lo ngại quá đáng). Ở đây, Pakistan có thể chỉ là một nước duy nhất đang chơi ván bài đi nước đôi. Trong khi ở nước láng giềng Ba Tư, nơi mà người Shiite là chủ yếu, đã có truyền thống trợ giúp kẻ thù của phe Sunni Taliban trong khối Liên Minh Miền Bắc (Northern Alliance). Tehran (thủ đô Iran) cũng có thể là nguồn tiếp vận của những bom ngòi nổ tự chế IED (Improvised explosive detonator) đã có mặt ở chiến trường A-Phú-Hãn. Dĩ nhiên là Ba Tư cũng có ý mong mỏi trông thấy quân lực Mỹ trên biên giới của họ phải đổ máu thêm một chút. Mặc dầu vậy, đôi lúc Hoa Kỳ có thể là kẻ địch độc hại nhất cho chính mình trên chiến trường A-Phú-Hãn. Vì không đủ quân lính, và bắt buộc phải kiểm soát cả một vùng rộng lớn, nên quân lực Hoa Kỳ phải lệ thuộc quá nhiều đến không-yểm từ những máy bay A-10, F-15, ngay cả máy bay thả bom B-1. Vào năm 2004, Không Quân Hoa Kỳ đã phát động 86 phi vụ (sorties) đánh điểm vào những mục tiêu ở A-Phú-Hãn. Đến năm 2007, con số đó tăng lên đến 2,926 – và đó là không kể đến những sorties họa tiễn và đạn đại bác được bắn từ những trực thăng chiến đấu. Những chỉ huy trưởng của quân lực Hoa Kỳ đã rất cẩn thận về những thiệt hại phụ (collateral damages) sau trận chiến Việt Nam. Không còn những “vùng oanh tạc tự do” (free fire zones), hay lính Thủy Quân Lục Chiến dùng hộp quẹt Zippo để đốt làng mạc. Mặc dầu thế, những người dân vô tội vẫn chết trong những cuộc hành quân đã được lên kế hoạch thật kỹ càng và chính xác. Đặc biệt là khi kẻ thù bất chấp luân lý, dùng thường dân để làm tấm chắn hàng rào che như phe Taliban đang làm. Theo Liên Hiệp Quốc, số thường dân tử vong đã leo thang từ 929 vào năm 2006 đến gần 2,000 vào năm 2008. “Khi chúng ta giết hại dân lành, đặc biệt là đàn bà và trẻ em, chúng ta sẽ mãi mãi mất (sự ũng hộ của) cả làng đó,” ông Thomas Johnson, của trường Hậu Đại Học Hải Quân ở Monterey, California, đã cảnh báo. Trong các bộ lạc phần đông là bộ tộc Pashtun, trả thù là một bổn phận. Một Đại Tá trong Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ (xin dấu tên để được phát biểu ý kiến trung thực) đã buồn rầu lên tiếng, “nếu giết chết một người trong bộ tộc Pashtun, là bạn đã mang thêm gánh nặng tạo ra 3 người nữa thề sẽ là kẻ thù của bạn”.

Đây là cuộc chiến đang rối nùi mà Đại Tướng Petraeus phải đương đầu. Ông ta đã hoàn thành nhiệm vụ gần như là một huyền diệu trong trận chiến Ba Tư, (và nó giống như là khi Tổng Thống Lincoln cuối cùng tìm được Tướng Grant), Tổng Thống Obama rất may mắn được thừa hưởng Tướng Petraeus. Đến nay, Tướng Petraeus chưa ra hiệu một chiến lược quy mô nào mới, thay vì thế ông ta chỉ để cho những phê duyệt của chính sách hiện hửu được tiến hành. Là một chính trị gia khôn ngoan, có thể ông ta đang âm thầm dạy dỗ tân tổng thống vể cái giá phải trả rất đắc và thời gian tốn phí nhiều năm để có được một “chiến thắng” ở A-Phú-Hãn - nếu mà chuyện đó có thể xảy ra!

Chắc chắn là Tướng Petraeus sẽ có ý muốn thống nhất những bộ chỉ huy hiện tại đang làm rối ren tình trạng ở A-Phú-Hãn. (Bộ chỉ huy bị phân chia cũng là một vấn đề kinh niên ở Việt Nam). Một số binh chủng báo cáo với Bộ Chỉ Huy Hành Quân Đặc Biệt (Special Operations Command), một số trình báo với quân đội chính quy, một số thi hành theo Bộ Chỉ Huy Trung Ương Hoa Kỳ (U.S. Central Command), và một số lại theo chỉ thị của lực lượng NATO. Và ngay trong lực lượng khối NATO, mỗi bộ chỉ huy của mỗi quốc gia lại báo cáo về chính phủ riêng của nước họ. Ở A-Phú-Hãn hiện đang có khoảng 37,000 binh lính NATO, nhưng phần lớn chỉ lo “bảo toàn lực lượng” – không gây ra thương vong – hơn là săn đuổi và giao chiến với địch quân.

Tướng Petraeus sẽ làm việc chặt chẽ với ông Richard Holbrooke, một nhà cựu ngoại giao đã giúp môi giới nền hòa bình ở khu vực Balkans. Ông Holbrooke đã được gửi đến bởi Bộ Ngoại Giao để phối hợp những chương trình trợ giúp từ nước ngoài đang bị phân tán mọi nơi và dễ bị trộm cắp vì tham nhũng; và cũng để đối đầu với các nhà ngoại giao, chính khách, và binh lính ở A-Phú-Hãn, trong trọng trách mang đến một tâm ý thống nhất trên chiến lược. Ông Holbrooke là một sức mạnh vũ bảo của thiên đình, tuy thế, sợ rằng ông ta có thể sẽ kết thúc giống như ông Robert Komer (Blowtorch Bob – Bob súng hàn sắt) ở chiến trường Việt Nam vào những năm cuối của thập niên 1960 – một người tài ba lỗi lạc, năng lực phi thường… và đã xuất hiện quá muộn!

Trên một khía cạnh nào đó, không có điều bí ẩn gì về chuyện gì phải làm để chiến đấu thành công trong một cuộc chiến tranh chống kháng chiến. Như Tướng Patraeus cũng đã từng tuyên bố, Hoa Kỳ không thể chỉ chém giết để đi đến thành công. Lính ngoại bang không thể đánh bại kháng chiến quân. Chỉ có những lực lượng địa phương với sự yểm trợ của nhân dân mới làm được chuyện đó. (Một cuộc nghiên cứu của RAND Corporation đã cho thấy từ sau Đệ Nhị Thế Chiến “các chính phủ đánh bại được ít hơn một phần ba các cuộc kháng chiến, trong khi các lực lượng kháng chiến quân này chỉ có năng lực với mức trung bình hay tồi.”) Tướng Petraeus sẽ muốn lính Mỹ huấn luyện dân vệ địa phương để kháng cự lại phe Taliban. Sự thật là người Nga Sô đã cố gắng làm việc này (không có gì mới mẻ trong công cuộc chiến đấu phản lại kháng-chiến-quân)… và đã thất bại ê chề. Ở A-Phú-Hãn, những thủ lãnh địa phương thường mau lẹ trong việc đánh chiếm lẫn nhau. Câu tục ngữ của dân địa phương là họ có thể được thuê, nhưng họ không để mua chuộc. Và ai muốn giết một tay súng Taliban khi kết quả là một mối cừu hận máu me chết chóc trường kỳ?

Người Mỹ đáng được ngờ vực về cơ hội thành công ở A-Phú-Hãn. Một cuộc thăm dò ý kiến của báo Newsweek cho thấy trong khi 71% dân chúng tin tưởng Tổng Thống Obama có thể kéo nền kinh tế trở lại thịnh vượng, thì chỉ có 48% tin ông ta có thể mang lại tiến triễn khá hơn ở A-Phú-Hãn. Triễn khai một lực lượng Hoa Kỳ với 60,000 quân sẽ có tổn phí khoảng $70 tỷ đô la một năm. Huấn luyện và yểm trợ một quân đội thích hợp cho A-Phú-Hãn với khoảng 130,000 đến 200,000 quân sẽ mất thêm cả một thập niên, và phí tổn có thể lên đến $20 tỷ đô la. Tướng Petraeus đã nhất quán cảnh báo, A-Phú-Hãn sẽ là “một chiến dịch dài nhất trong cuộc chiến tranh lâu nhất” trong cuộc chiến chống lại những người Hồi Giáo cực đoan. Đó là một điểm rất xa so với điều mong muốn của người Mỹ có lòng kiên trì cho sự cam kết lâu dài này. Đôi với dân chúng Mỹ, sau nền kinh tế, ưu tiên tối cao là y tế và sức khỏe cộng đồng (36%). Chỉ có 10% cho vấn đề A-Phú-Hãn được nằm trên đầu của danh sách của ưu tiên quốc gia, và đó là còn ít hơn phần số cho Ba Tư. Nếu không có cải tiến hiện thực trên mặt trận A-Phú-Hãn, đến năm 2010 cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, các ứng cử viên có thể sẽ kêu ca ta thán… đó là “Cuộc Chiến của Obama”!

Vậy thì tại sao không rút lui? Như mọi chuyện trên đời này, không đơn giãn như vậy. Nếu người Mỹ rút quân trong hiện tại, thì lực lượng quân đội đang thành hình của A-Phú-Hãn có thể sẽ bị sụp đổ. (Khi quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị mất yểm trợ bởi Không Quân Hoa Kỳ, đôi khi họ khước từ và chùn bước khi phải ra mặt trận chiến đấu). A-Phú-Hãn rất có thể sẽ lao vào vòng nội chiến, giống như sau khi Nga Sô đã rút lui vào năm 1989. Chưa gì mà người bộ tộc Pashtuns ở miền nam đã xem người Tajiks, (được Hoa Kỳ hậu thuẩn) trong phần số đông của chính quyền Karzai, là kẻ thù rồi. Phe chiến thắng hầu như sẽ là phe có được sự hậu thuẩn của Pakistan, và đó có thể là phe Taliban - giống như cuộc nội chiến vừa qua.

Một vài người tranh luận rằng, đó không phải là một kết quả xấu, nếu như có thể hối lộ hay khuyến dụ phe Taliban về chuyện không cho phép phe Al Qaeda đặt doanh trại huấn luyện những kẻ khủng bố trong vùng lãnh thổ của A-Phú-Hãn. Theo một nhân vật cao cấp của cấp lãnh đạo Taliban (người cựu Phó Bộ Trưởng của chính phủ Mulla Mohammed Omar), thì những viên chức chính quyền Pakistan đang thúc giục quân kháng chiến tiến hành chính sách này - để ngược lại được đặc quyền thương thuyết trực tiếp với người Mỹ. Trên khía cạnh khác, Islamabad (thủ đô của Pakistan) có thể đang chơi với lửa. Qua lịch sử của mối liên kết ràng buộc lâu dài giữa người Pakistan và phe Taliban ở A-Phú-Hãn, một quốc gia với thánh-chiến-quân (jihadists) nằm ngay sát biên giới của mình là một sự đe dọa cho Pakistan. Và ngay tại đây, vì nền an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, chắc chắn Hoa Kỳ sẽ phải nhảy vào cuộc và khai mào.

Nhiều vấn đề không có giãi đáp, hoặc một giãi đáp thích nghi. Hai công trình nghiên cứu về vấn đề rối ren ở A-Phú-Hãn được phó chủ tọa bởi Đại Tướng Thủy Quân Lục Chiến Jim Jones (hiện là Cố Vấn An Ninh Quốc Gia cho Tổng Thống Obama), khẳng định là người Mỹ không thể thất bại ở A-Phú-Hãn. Không ai muốn trở thành người tổng thống Mỹ đã cho phép thánh-chiến-quân được quyền tuyên bố chiến thắng và đánh bật người Mỹ ra khỏi lãnh thổ A-Phú-Hãn. Daniel Ellsberg, người làm thầu với chính phủ Hoa Kỳ đã lộ bí mất về những văn bản của tòa Ngũ Giác Đài (the Pentagon) đã từng phát biểu ý kiến về trận chiến Việt Nam: “Lúc nào cũng là năm xấu (không đúng lúc) để rút quân khỏi Việt Nam”. Đó cũng là sự thật xác định về trường hợp hiện tại của cuộc chiến A-Phú-Hãn.


(Với sự cộng tác của Ron Moreau và Sami Yousafzai)
Dịch bởi Alexander Le