Chapter 1: Good Evening, Mr. Roosevelt!
All the Shah's Men, by Stephen Kinzer
(Translated by Alexander Le)
Phần lớn thủ đô Tehran đã chìm trong giấc ngũ khi một đoàn xe khác thường bắt đầu cuộc hành trình xuyên màn đêm vào thời điểm sau nữa đêm một chút của ngày 15 tháng 8 năm 1953. Dẫn đầu đoàn là một chiếc xe thiết giáp với những dấu hiệu quân sự. Sau đó là hai chiếc xe Jeep và vài chiếc xe tải quân đội chở đầy lính. Thời tiết ban ngày nóng bức quá mức, nhưng đêm xuống đã mang lại chút giãm nhiệt. Mặt trăng lưởi liềm đang sáng toả. Đó là một đêm lý tưởng để lật đổ một chính phủ.
Ngồi trong chiếc xe dẫn đầu, Đại Tá Nematollah Nasiri, chỉ huy trưởng của Vệ Binh Hoàng Gia, có lý do để tự tin. Trong túi của ông ta mang một sắc lệnh của vua Shah nước Ba-Tư cách chức Thủ Tướng Mohammad Mossadegh. Nasiri trên đường đi trình sắc lệnh này đến Mossadegh và bắt giam ông ta nếu ông ta phản kháng.
Những người mật vụ tình báo của Mỹ và Anh Quốc đặt kế hoạch âm mưu cuộc nỗi loạn này đã tính toán trước là Mossadegh sẽ lập tức triệu tập quân đội để đàn áp cuộc phiến loạn. Họ đã sắp đặt trước, sẽ không có ai trả lời cú điện thoại này khi ông ta gọi đến. Trước hết, Đại Tá Nasiri phải dừng ngang qua tư dinh của Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội để bắt giử ông ta, rồi thẳng tiến đến việc trao sắc lệnh định mệnh kia.
Viên đại tá thi hành theo mệnh lệnh. Tuy nhiên, khi ông ta đến nơi dừng chân thứ nhất, ông đã trực diện một cái gì rất bất bình thường. Mặc dù thời gian đã khuya khoắc, nhưng tổng tham mưu trưởng, Tướng Taqi Riahi, không có ở nhà. Không có một bóng người nào. Không có ngay cả một người giúp việc hay là người gác dan.
Chuyện này đáng lý ra phải làm cho Đại Tá Nasiri cảnh giác là có gì bất bình thường, nhưng ông ta lại không để ý lắm. Ông ta chỉ leo trở lại lên xe thiết giáp và ra lệnh người tài xế tiến đến mục tiêu chính của mình, tư gia của Thủ Tướng Mossadegh. Với ông ta, đoàn xe lăn bánh mang theo niềm hy vọng của hai cơ quan mật vụ tiếng tăm nhất thế giới.
Đại Tá Nasiri đã không đủ liều lỉnh để mưu toan một sứ mệnh táo bạo như thế này một mình ông. Sắc lệnh ông mang trên người có tính chất mơ hồ về pháp lý, vì trong nền dân chủ của Ba-Tư, thủ tướng chính phủ chỉ được quyền bổ nhiệm hay cách chức thông qua sự chấp thuận của nghị viện. Nhưng sự việc tối hôm nay là kết quả cao điểm của sau nhiều tháng sắp đặt kế hoạch do Cơ Quan Tình Báo CIA (Central Intelligence Agency) và Dịch Vụ Tình Báo của Anh Quốc (Britain’s Secret Intelligence Service). Cuộc lật đổ họ đang diễn đã được ra lệnh bởi Tổng Thống Dwight Eisenhower (tổng thống Mỹ) và Thủ Tướng Winston Churchill (thủ tướng Anh).
Vào năm 1953, Hoa Kỳ vẫn còn mới lạ với Ba-Tư. Nhiều người Ba-Tư nghĩ người Mỹ là bạn của họ, những người ủng hộ nền dân chủ mong manh mà họ đã tốn nửa thế kỷ để cố gắng tạo lập. Anh Quốc, không phải Hoa Kỳ, là quốc gia mà họ đã quỷ hóa vì đó là một bọn thực dân áp bức và bóc lột họ.
Từ những năm đầu tiên của thế kỷ thứ 20, một công ty Anh Quốc với chủ sở hửu là chính quyền Anh Quốc, đã tận hưởng độc quyền toàn lợi nhuận tuyệt diệu từ việc sản xuất và buôn bán dầu thô của nước Ba-Tư. Cái tài sản giàu có chảy ra từ dưới đất đai của Ba-Tư đóng một vai trò quyết định trong sự giữ vững Anh Quốc nằm trên đỉnh vọng cực điểm của uy quyền trên thế giới, trong khi người dân Ba-Tư sống trong nghèo khổ bần cùng. Cuối cùng, đến năm 1951, người dân Ba-Tư đã đến với ông Mossadegh, người mà hơn tất cả các nhà lãnh đạo chính trị khác trong nước, đã cá nhân hóa cơn giận dử này đối với công ty Anglo Iranian Oil Company (AIOC – Công ty dầu Anh Ba-Tư). Ông ta nguyền cam kết là sẽ tống cổ công ty này ra khỏi nước Ba-Tư, đòi lại số lượng dầu dự trự khổng lồ của đất nước, và tách Ba-Tư ra khỏi vòng cai trị của thế lực ngoại bang.
Thủ Tướng Mossadegh đã thực hiện những lời nguyền cam kết của ông với một bầu nhiệt huyết kiên trì chưa từng thấy. Giữa những tiếng hoan hô vang dội chất ngất của người dân nước ông, Mossadegh đã quốc hửu hóa công ty dầu Anglo-Iran, một thương vụ mang số tiền lợi nhuận lớn nhất trên thị trường thế giới của Anh Quốc. Không lâu sau đó, những người dân Ba-Tư đã dành lấy lại sự điều khiển và kiểm soát nhà máy lọc dầu của công ty này ở Abadan trong vùng Vịnh Ba-Tư (Persian Gulf).
Sự kiện này đã đưa nước Ba-Tư vào trạng thái yêu nước ngây ngất và làm ông Mossadegh trở thành một anh hùng dân tộc. Nó cũng mang lại sự tức giận cực kỳ cao độ cho người Anh Quốc. Họ đã căm phẩn ông Mossadegh và đã cho là ông ăn cắp tài sản của họ. Họ bắt đầu đòi hỏi Toà Án Thế Giới (World Court) và Liên Hiệp Quốc (the United Nations) phải trừng trị ông ta, sau đó họ đã đưa tàu chiến của họ đến vùng Vịnh Ba-Tư, và cuối cùng là đặt một lệnh cấm vận mà đã gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế của Ba-Tư. Bất chấp chiến dịch này, đa số người Ba-Tư rộn ràng sung sướng với sự niềm dũng cảm và táo bạo của ông Mossadegh. Cùng với sự đồng lòng ủng hộ của tất cả những nhà lãnh đạo chống thực dân toàn lục địa Á Châu và Phi Châu.
Ông Mossadegh hoàn toàn thản nhiên trước chiến dịch của Anh Quốc nhằm đối phó với ông. Một tờ báo ở Âu Châu đã viết là ông Mossadegh “thà bị chiên trong vạt dầu của Ba-Tư còn hơn là nhượng nữa bước với Anh Quốc.” Có một thời gian, người Anh cân nhắc chuyện xâm chiếm bằng quân sự để chiếm lại những mỏ dầu và những nhà máy lọc dầu, nhưng họ từ bỏ ý định đó khi Tổng Thống Harry Truman (Mỹ) từ chối làm hậu thuẫn cho họ. Anh Quốc chỉ còn hai sự lựa chọn: để ông Mossadegh tự do nắm quyền hành hay là tổ chức một cuộc đảo chánh để lật đổ ông ta. Thủ Tướng Churchill, là một sản phẩm kiêu hãnh của tập tục đế quốc, đã không ngần ngại quyết định giãi pháp dùng một cuộc đảo chánh.
Những tay mật vụ Anh Quốc bắt đầu bắt tay vào âm mưu lật đổ ông Mossdegh ngay sau khi ông ta quốc hửu hóa công ty dầu hỏa. Họ đã quá sốt sắng và hung hăn gây ra kết quả tai hại cho chính họ. Ông Mossadegh đã tìm ra manh mối vụ việc, và vào năm 1952 ông ta đã ra lệnh đóng cửa toà đại sứ Anh Quốc. Tất cả những nhân viên ngoại giao ở Ba-Tư, kể cả những nhân viên mật vụ trá hình làm việc với mác nhãn nhân viên ngoại giao, đều bị đồng loạt trục xuất khỏi đất nước Ba-Tư. Không còn lại một ai để dàn cảnh sắp xếp cho một cuộc đảo chánh.
Ngay lập tức, người Anh đã yêu cầu sự trợ giúp của Tổng Thống Truman. Tuy nhiên, ông Truman lại có lòng thiện cảm với những phong trào chủ nghĩa dân tộc, giống như phong trào của ông Mossadegh đang dẫn đầu. Ông ta không có gì hơn là sự kinh miệt cho những hạng cổ hủ với chủ nghĩa đế quốc như những kẻ điều khiển công ty dầu Anh – Ba-Tư. Bên cạnh đó, cơ quan tình báo CIA chưa bao giờ lật đổ một chính quyền, và ông Truman không muốn đặt ra một tiền lệ.
Thái độ của người Mỹ về một cuộc đảo chánh có thể xảy ra ở Ba-Tư đã thay đổi hoàn toàn khi ông Dwight Eisenhower được bầu vào chức tổng thống vào tháng 11 năm 1952. Chỉ trong vòng vài ngày sau cuộc bầu cử, một mật vụ viên cao cấp của Dịch Vụ Tình Báo (Anh), Christopher Montague Woodhouse, đã đến Hoa Thịnh Đốn dự những cuộc họp với các nhân viên cao cấp của CIA và Bộ Ngoại Giao (State Department). Woodhouse đã khôn ngoan quyết định không thảo luận với lý do quen thuộc của Anh Quốc, là ông Mossadegh phải ra đi vì ông ta đã quốc hửu hóa tài sản của Anh Quốc. Thảo luận như thế không gây được sự đồng cảm của Hoa Thịnh Đốn. Nhưng Woodhouse đã biết cái gì sẽ gây nên được.
“Không muốn bị buộc tội là có ý định dùng người Mỹ để lấy những hạt dẻ của người Anh đang nướng ra khỏi đống lửa,” ông ta đã viết sau này, “ tôi quyết định nhấn mạnh sự đe dọa của mối lo âu Cộng Sản đối với nước Ba-Tư hơn là chuyện cần thiết giành lại việc điều khiển kỹ nghệ dầu hỏa.”
Lời thỉnh cầu này nằm trong ý định tính toán sẽ khuấy động hai anh em điều hành chính sách đối ngoại của người Mỹ sau lễ nhậm chức của ông Eisenhower. John Foster Dulles, người kế vị chức Tổng Trưởng Bộ Ngoại Giao, và Allen Dulles, người kế vị chức Giám Đốc Cơ Quan Tình Báo CIA, là những người chiến sĩ Chiến Tranh Lạnh (Cold War) mãnh liệt nhất. Họ nhìn cả thế giới bằng cặp mắt đây là bãi chiến trường tư tưởng, và họ nhận thấy tất cả mỗi xung đột địa phương qua lăng kính của sự đối chọi đương đầu giữa hai phe Đông và Tây. Trong mắt họ, bất cứ quốc gia nào không cương quyết làm đồng minh của Hoa Kỳ thì họ là những kẻ thù trong tương lai. Họ cho Ba-Tư là một quốc gia đặc biệt nguy hiểm.
Ba-Tư có một tài nguyên dầu hỏa vô biên, một đường biên giới dài với khối Liên Sô, một đảng Cộng Sản đang hoạt động, và một vị thủ tướng theo chủ nghĩa dân tộc. Hai anh em nhà họ Dulles đã tin tưởng là Ba-Tư đang thật sự có nguy cơ sẽ theo chủ nghĩa cộng sản. Viễn tượng của một “Trung Quốc thứ hai” đã làm họ kinh hãi. Khi người Anh trình bày dự kiến đề nghị lật đỗ ông Mossadegh và thay thế ông ta với một thủ tướng ủng hộ phương tây đáng tin cậy, họ đã lập tức quan tâm chú ý.
Không bao lâu sau khi Tổng Thống Eisenhower nhậm chức vào ngày 20 tháng giêng, năm 1953, John Foster Dulles và Allen Dulles báo cho những đối tác người Anh là họ sẳn sàng tiến tới việc chống lại ông Mossadegh. Cuộc lật đổ này sẽ được mệnh danh là Điệp Vụ Ajax (Operation Ajax), hay theo biệt ngữ của CIA là TPAJAX. Để điều hành điệp vụ này, họ đã chọn một nhân viên CIA với nhiều kinh nghiệm đáng kể ở vùng Trung Đông, Kermit Roosevelt, cháu nội của Tổng Thống Theodore Roosevelt (tổng thống thứ 26 của Hoa Kỳ, 1901-1909).
Giống như những thành viên nỗi tiếng khác trong gia tộc, Kermit Roosevelt có một thiên hướng cho hành động trực tiếp và được ghi nhận là có tính quyết định dứt khoát trong những cơn tình trạng rối loạn. Lúc này ông ta ba mươi bảy tuổi, giám đốc của cơ quan tình báo CIA trong khu vực Cận Đông (Near East) và Vùng Á Châu (Asian Division), và là một nhân vật được thừa nhận là bậc thầy trong nghề gián điệp. Điệp viên Kim Philby của Liên Sô đã miêu tả ông ta là một bậc thượng thừa của “người đàn ông Mỹ kín đáo” (the quiet American), “một người miền đông (nước Mỹ) lịch sự, nói chuyện nhỏ nhẹ, với những mối quan hệ hoàn hảo trong xã hội, được giáo dục kỹ càng hơn chỉ là trí thức, dễ chịu và khiêm tốn dù đang là khách hay chủ. Một cô vợ đặc biệt dễ thương. Thật ra, một người bạn không thể tưởng được là loại người đầy trò mưu mô giảo hoạt đến tận cổ.”
Những nhân viên CIA vào thời điểm này, cùng có chung một chủ nghĩa lý tưởng thâm sâu, một nhận thức tuyệt đối, là họ đang làm những chuyện tồi bại quan trọng đến sự sống còn cho thế giới tự do. Phần đông họ là kết hợp của những tư chất ưu tú nhất của các nhà tư tưởng và những người thích mạo hiểm. Không ai nỗi bật trong sự kết hợp này bằng Kermit Roosevelt.
Vào đầu tháng Bảy, phớt lờ lệnh của bác sĩ cơ quan tình báo là ông ta phải đặt ưu tiên cho việc mỗ thận khẩn cấp, ông ta đã bay đi làm công việc mật vụ của ông ta. Ông ta đáp máy bay ở Beirut (thủ đô Lebanon) và từ đây ông ta khởi hành bằng xe hơi qua những vùng sa mạc của Syria và Iraq. Khi tiến vào Ba-Tư từ một nhánh đường hẻo lánh, ông chỉ có thể che đậy vừa đủ nỗi kích thích của chính mình:
“Tôi nhớ lời cha tôi đã viết khi ông ta đặt chân lên lục địa Phi Châu với cha của ông ta, T.R., vào năm 1909, trong chuyến Theo Những Nẻo Săn Bắn ở Phi Châu (the African Game Trails). “Đó là một cuộc mạo hiểm phi thường, và cả thế giới còn rất nguyên thủy!” tôi đã cảm thấy những gì ông ta đã cảm nhận. Thần kinh tôi bị kích thích rộn lên, tinh thần tôi bay bổng trong lúc chúng tôi đang bắt đầu leo lên con đường đồi núi… Theo cuộc hành trình xảy ra, vào ngày 19 tháng Bảy năm 1953, chúng tôi đã chạm trán với một anh chàng nhân viên di trú và quan thuế quá thờ ơ lãnh đạm, ngu muội và chỉ biết chữ sơ xài, tại Khanequin. Trong thời gian này, những người mang giấy thông hành của nước Hoa Kỳ, như hiện nay đã chấm dứt, có một câu ngắn mô tả diện mạo đặc biệt của người mang giấy thông hành đó. Vói sự khuyến khích và trợ giúp của tôi, anh chàng nhân viên này đã khổ nhọc viết tên tôi vào danh sách là “Ông Trán có Thẹo Bên Phải.” Tôi thấy chuyện này là một điềm tốt lành.”
Roosevelt đã bỏ ra hai tuần ở Teheran để chỉ huy công việc từ một biệt thự do một trong những người gián điệp của ông ta mướn cho ông trưng dụng. Sau nhiều thập niên của những vận động ngầm bởi người Anh, ghép thêm những công tác gần đây của CIA, đã mang lại cho ông ta một tài sản gián điệp lý tưởng ở tại khu vực hoạt động. Trong số đó là một nhúm nhân viên đặc vụ người Ba-Tư rất tháo vác, và có nhiều tài xoay sở trong việc chắp nối một mạng lưới điệp vụ bí mật gồm những chính trị gia đồng tình, những sĩ quan quân đội, những giáo sĩ Hồi Giáo, những chủ nhiệm báo chí, và những tay cầm đầu bọn du đảng du thực. Cơ Quan Tình Báo CIA đã trả cho những đặc vụ này hàng chục ngàn đô-la mỗi tháng, và họ đã đáng giá với mỗi xu họ nhận được. Trong mùa xuân và mùa hè của năm 1953, không có một ngày nào trôi qua mà không có ít nhất một người của CIA, từ giáo sĩ Hồi Giáo, đến phóng viên báo chí, hay chính trị gia, lên tiếng phản đối kịch liệt Thủ Tướng Mossadegh. Mặc dầu thế, ông Mossadegh là người tôn trọng triệt để sự bất khả xâm phạm của quyền tự do báo chí, nên ông ta cự tuyệt chuyện đàn áp dẹp bỏ chiến dịch này.
Những người gián điệp Ba-Tư ra vào biệt thự của Roosevelt chỉ biết ông ta với biệt danh James Lockridge. Qua thời gian, họ đã tự nhiên phát triễn cảm giác tình đồng chí, và một vài người Ba-Tư đã bắt đầu gọi ông bằng Jim, và ông lấy làm thích thú với cách gọi như thế. Chỉ có vài lần khi chơi tennis thường xuyên ở tòa đại sứ Thổ Nhỉ Kỳ (Turkey) và trong khuôn viên của Học Viện Pháp Quốc là ông gần để lộ chân tướng. Khi ông đánh trật một đường banh, ông tự mắng mình bằng cách la lên “Ô, Roosevelt!” Một vài lần ông đã bị hỏi, tại sao một người tên Lockridge mà lại có một thói quen kêu lên như thế. Ông ta đã trả lời rằng, ông ta là một người trung kiên theo phe đảng Cộng Hòa và ông xem Tổng Thống Franklin D. Roosevelt là một người rất quỷ quái nên ông ta thường dùng tên Roosevelt để mắng chửi khi thích hợp.
Kế hoạch cho Điệp Vụ Ajax đưa ra hình ảnh một chiến dịch tâm lý chống đối Thủ Tướng Mossdegh với cường độ thật mãnh liệt và được tiếp nối bằng lời tuyên bố của vua Shah là sẽ cách chức ông và đuổi ông ra khỏi chính quyền. Những băng du đảng và đơn vị quân đội có cấp lãnh đạo đã ăn lương của CIA sẽ thẳng tay đè bẹp bất cứ toan tính kháng cự nào của ông Mossadegh. Và sau đó sẽ có phát thanh cho biết là vua Shah đã chọn Tướng Fazlollah Zahedi, một cựu tướng lãnh đã về hưu – người đã nhận hơn $100,000 đô-la từ CIA – lên làm tân thủ tướng của Ba-Tư.
Đến đầu tháng tám, thủ đô Tehran như đang nằm trên đống lửa. Những băng đảng tay sai của CIA dựng lên những cuộc biểu tình chống đối ông Mossadegh, tuần hành trên khắp đường phố, mang những hình ảnh của vua Shah và tung hô những khẩu hiệu trung thành với Hoàng Gia. Những điệp viên ngoại quốc hối lộ các tay dân biểu của nghị viện và bất cứ ai khác có thể trợ giúp thành công trong việc đảo chánh sắp đến.
Sự công kích ông Mossadegh của báo chí đạt đến mức độc địa hiểm ác. Những bài báo buộc tội ông không những chỉ nghiêng về phe cộng sản và mưu đồ hảm hại ngôi vua, mà còn là có cha mẹ gốc gác người Do Thái và ngay cả chuyện ông ta kín đáo cảm thông với người Anh. Tuy ông Mossadegh đã không biết, nhưng đa phần những tràng đả kích chửi rủa này đã được xúi giục bởi CIA hay là đã được viết bởi những nhà tuyên truyền ở Hoa Thịnh Đốn. Một trong những nhà tuyên truyền này, Richard Cottam, đã ước lượng có đến bốn phần năm báo chí trong thủ đô Tehran nằm trong vòng ảnh hưởng của CIA.
“Bất cứ bài báo nào tôi đã viết – nó mang cho bạn một cảm giác uy quyền - liền được xuất hiện lập tức ngay ngày hôm sau trong báo chí của Ba-Tư,” Cottam đã hồi tưởng nhiều năm sau đó. “Những bài báo này được thiết kế để chứng tỏ ông Mossadegh là người cộng tác với người cộng sản và là một người cuồng tín.”
Trong khi âm mưu đang được tập trung tăng cường độ, thì Roosevelt phải đối mặt với một cản trở to lớn nhất của ông ta, đó là Mohammad Reza Shah. Ông hoàng ba mươi hai tuổi này chỉ là người vua thứ hai của dòng họ Pahlavi, là người có bản tính nhút nhát, hay lưỡng lự, và ông ta cự tuyệt việc bị lôi kéo vào một âm mưu quá táo bạo. “Ông ta ghét phải quyết định bất cứ việc gì và không thể tin tưởng được một khi đã phải quyết” một nhà ngoại giao Anh Quốc đã cho biết. “Ông ta không có cái gan dạ làm theo đạo lý luân thường và dễ dàng bị đánh bại khi lo âu sợ hãi.”
Ngoài bản tính của ông ta ra, còn có nhiều lý do khác cản trở vua Shah. Ông Mossadegh là một nhân vật được lòng dân nhất trong lịch sử cận đại của Ba-Tư, và mặc dầu với những chiến dịch đánh đổ ông và phá hoại nền kinh tế Ba-Tư của người Anh đã làm uy tín ông suy yếu đi, nhưng ông vẫn được đa số quần chúng khắp nơi yêu mến và kính phục. Thêm nữa, cũng không có căn cứ rõ rệt là nhà vua có quyền hành hợp pháp để cách chức ông ta. Và, cuộc âm mưu có thể dễ dàng mang đến một phản ứng ngược với hậu quả không phải chỉ nguy hiểm đến tính mạng của vua Shah mà còn cả đến chính nền quân chủ đó.
Những chuyện đó không làm Roosevelt nản lòng. Để hợp thức hoá cuộc lật đổ, ông cần có những sắc lệnh ký bởi vua Shah cách chức ông Mossadegh và tấn phong Tướng Zahedi vào chức vụ này. Roosevelt không bao giờ nghĩ là cuối cùng ông ta sẽ không lấy được những sắc lệnh đó. Cuộc chiến tranh tâm trí với vua Shah đã không quân bình ngay từ lúc bắt đầu. Roosevelt thì rất khôn ngoan và được rèn luyện kỹ càng, và đằng sau ông ta là một hậu thuẫn thế lực quốc tế rộng lớn. Vua Shah thì yếu đuối, không chín chắn, và đơn độc.
Bước đầu mở đường cho Roosevelt là đưa đến những người đặc phái viên có thể ảnh hưởng vua Shah. Trước hết, ông ta đã sắp đặt cho cô em gái sanh đôi của nhà vua, Công Chúa Ashraf - người rất tinh xảo và hiếu chiến ngang bằng với tính đần độn và yếu ớt của nhà vua - đến thăm viếng ông em này để cố tạo một xương sống cứng rắn cho ông ta. Truyền thuyết Ashraf mắng nhiếc xỉ vả ông anh mình, đã nổi tiếng trong cộng đồng Ba-Tư, ngay cả một lần trước mặt các nhà ngoại giao ngoại quốc cô ta đã yêu cầu ông ta chứng minh ông ta là một đấng nam nhi hay là một con chuột nhắc. Cô ta ghét cay ghét đắng ông Mossadegh, vì ông này đã trở thành một kẻ thù của quyền lực hoàng gia. Những cuộc tấn công của cô ta về chính quyền của Mossadegh quá cay đắng đến nỗi vua Shah cảm thấy tốt nhất là đưa cô ta ra khỏi nước. Từ chuyến lưu đày trong nhung lụa của cô ta ở Âu Châu, cô ta theo dõi những sự kiện xảy ra ở quê hương mình với sự giận dử không nguôi.
Ashraf đang tận hưởng cuộc sống ở những sòng bài và hộp đêm nỗi tiếng của đất Pháp, khi một điệp viên Ba-Tư ưu tú nhất của Roosevelt, Asadollah Rashidian, đến với cô ta bằng một cú điện thoại. Ông này thấy cô ta có vẽ miễn cưỡng, nên ngày hôm sau sắp đặt cho một phái đoàn gồm những viên mật vụ của Anh Quốc và Hoa Kỳ mang đến thông điệp với những điều kiện mật ngọt hơn. Người dẫn đầu phái đoàn, một mật vụ viên cao cấp người Anh có tên là Norman Darbyshire, đã có đủ nhận định sáng suốt để mang theo một cái áo lông chồn và một gói tiền mặt. Khi Ashraf nhìn thấy số thù lao này, ông Darbyshire đã hồi tưởng lại: “cặp mắt cô ta sáng lên” và sức kháng cự của cô ta vỡ vụn. Cô ta đồng ý bay về Tehran và đã đáp xuống với không một rắc rối nào dưới cái tên gia đình bên chồng, Madame Chafik. Lúc đầu ông em chống đối lại việc gặp cô em mình, nhưng sau khi đã bị áp lực bằng một cách không che đậy tế nhị từ những người cộng tác với ông ta, ông ta đã dịu lại và đồng ý. Hai anh em đã gặp nhau vào đêm khuya của ngày 29 tháng Bảy. Cuộc gặp gỡ rất căng thẳng. Cô ta đã thất bại trong việc khuyến dụ nhà vua ban hành những sắc lệnh cốt yếu, và thêm khó khăn cho mọi toan tính, tin tức về sự hiện diện của cô ta đã bị lộ ra cho dân chúng biết và đã mang đến một cơn bảo sóng của những cuộc xuống đường biểu tình chống đối. Cô ta liền mau lẹ trở về Âu Châu, trong sự thở dài nhẹ nhõm của tất cả mọi người.
Kế tiếp, Roosevelt quay qua Tướng H. Norman Schwarzkopf, người đã bỏ phần lớn thời gian của những năm trong thập niên 1940 ở Ba-Tư để lãnh đạo một trung đoàn quân đội tinh nhuệ, và là người mà vua Shah có cảm tưởng đã mang ơn sâu sắc. Cơ quan tình báo CIA đã cho ông Schwarzkopf một “điệp vụ che đậy” bằng những cuộc họp và thanh tra ở Lebanon, Pakistan, và Ai Cập để chuyến dừng ngang Ba-Tư của ông chỉ được xem đơn thuần là một trạm dừng chân tạm thời. Theo một nguồn tin tường thuật lại, ông ta đã đến với “một vài bao lớn” chứa đầy khoảng vài triệu đô-la tiền mặt. Ông gặp gỡ Roosevelt trước tiên với những nhân vật chánh người Ba-Tư nằm trong điệp vụ này, và đó là những người ông đã phân phát phần lớn số tiền đã mang đến. Ngày đầu tiên của tháng Tám, ông đã ra mắt với vua Shah tại điện Saad Abad Palace.
Đó là một cuộc đối mặt kỳ lạ. Ban đầu vua Shah đã không chịu lên tiếng nói một lời với người khách của ông, và khoát tay cho biết là ông ta nghi ngờ có microphones (máy ghi âm) dấu diếm đâu đó ở trong phòng. Rồi ông ta đưa Schwarzkopf vào một phòng dạ hội rộng lớn, kéo một cái bàn vào ngay giữa phòng, ngồi lên trên bàn đó, và mời ông khách tướng lãnh cùng ngồi chung với ông ta. Sau đó ông ta rỉ tai thì thầm là ông ta vẫn chưa quyết định là có nên ký những sắc lệnh mà Roosevelt mong muốn. Ông ta không tin là quân đội sẽ tuân theo bất cứ lệnh nào ông ta ký, và ông ta không muốn bị nằm bên phe thua cuộc trong một mật vụ mang hết sức nhiều rủi ro.
Ngay trong lúc Tướng Schwarzkopf lắng nghe, ông ta có cảm giác là mức kháng cự của vua Shah đã suy yếu dần. Thêm một người thăm viếng nữa có thể sẽ mang lại hậu quả mong đợi, nhưng người đó phải chính là ông Roosevelt. Đây là một đề xuất hết sức nguy hiểm. Nếu Roosevelt bị trông thấy ở cung điện, tin tức sự có mặt của ông ta ở Ba-Tư sẽ có thể bị lộ và làm hỏng cả nguyên điệp vụ này. Mặc dầu thế, Schwartzkopf cho ông Roosevelt biết là không có cánh nào khác.
Roosevelt đã biết trước lời khuyên này. “Tôi đã biết chắc ngay từ đầu là một cuộc gặp mặt cá nhân sẽ cần thiết,” ông ta đã viết sau đó. “An toàn và riêng tư, nhà vua và tôi có thể giãi quyết nhiều vấn đề khó khăn mà chúng tôi đang đương đầu. Việc này chỉ có thể làm trên cơ bản cá nhân trực diện. Có nhiều khả năng chúng tôi không phải chỉ gặp nhau một lần mà là nhiều lần. Vậy thì chuyện đó chúng tôi bắt đầu càng sớm càng tốt.”
Để chuẩn bị phương tiện cho cuộc viếng thăm của ông, Roosevelt đã đưa tay gián điệp trung thành nhất của mình là Assadollah Rashidian đến gặp vua Shah ngày 2 tháng 8. Thông điệp của ông Rashidian chỉ đơn giản là: Người Anh và người Mỹ đang thảo kế hoạch cho một cuộc đảo chánh và sẽ không để bị ngăn cản. Dưới những tình huống này, Rashidian nhận xét chua chát, nhà vua có rất ít sự lựa chọn mà phải hợp tác thôi. Vua Shah đã gật đầu đồng ý trong yên lặng.
Mặc dầu thế, chỉ có Roosevelt biết cách làm thế nào để niêm phong cuộc thương lượng. Ông ta cho một tay gián điệp trong hoàng cung với bí danh là Rosenkrantz, đến với vua Shah và tâu rằng “có một người Mỹ được quyền đại diện Eisenhower và Churchill xin phép yết kiến bệ hạ trong vòng bí mật.” Trong vòng vài tiếng đồng hồ sau khi lời đề nghị kia được tâu lên, vua Shah đã chấp thuận. Ông ta sẽ cho xe đến biệt thự của Roosevelt đón vào khoảng giữa đêm.
“Hai tiếng đồng hồ chờ đợi!” Roosevelt tự nói với mình sau khi nhận được câu trả lời. “Tôi phải cân nhắc bộ y phục của tôi nên thế nào. Nếu không thích hợp cho một cuộc hội kiến hoàng gia, tôi thấy nó cũng tốt cho những trường hợp cá biệt như thế này. Tôi mặc một cái áo cổ cao màu sẫm, quần tây Oxford xám, và môt đôi giầy givehs màu đen, loại giầy bằng vải có đế dây của Ba-Tư, nửa giống như là giầy và nửa giống như là dép mang trong phòng ngũ. Không thể nói là lịch lãm nhưng thích hợp kín đáo.”
Roosevelt, người đã phỏng vấn vua Shah sáu năm trước trong lúc ông nghiên cứu viết cuốn sách có tên là “Ả-Rập, Dầu, và Lịch Sử” (Arabs, Oil and History) và cũng đã gặp lại vua Shah những lần sau viếng thăm Ba-Tư, giờ đây ngồi chờ đợi đến giờ đã định với một nhóm điệp viên của ông ta. Ông nghĩ tốt hơn hết là không nên uống rượu, mặc dầu những đồng chí của ông thì không có sự thận trọng đó. Khi nữa đêm giờ đã điểm, ông đi bộ ra cổng trước rồi tiến ra đường. Một chiếc xe đang chờ đợi. Ông leo lên ngồi vào băng ghế sau.
Không có gì khuấy động trong khi Roosevelt được đưa đến cung điện quốc gia. Trong khi chiếc xe đang leo dốc trên con đồi dẫn lên cung điện, ông đã quyết định nên ẩn mình ra ngoài tầm nhìn. Người chủ mời ông đã đủ quan tâm để chuẩn bị một cái mền xếp ngăn nắp để trên ghế xe, và Roosevelt đã đưa nó vào xử dụng một cách đích đáng bằng cách nằm dài xuống sàn xe sau và kéo trùm kín qua người mình.
Ở tại cổng canh gác, đã không có vấn đề gì, chỉ một cái vẫy tay chiếu lệ. Chiếc xe tiếp tục thêm chốc lát và rồi ngừng cách xa những bậc thang cấp rộng rãi bằng đá vôi của cung điện. Một bóng người mảnh khảnh đang đi bộ xuống những bậc thang cấp tiến đến ông. Người đàn ông, Roosevelt lập tức nhận ra ngay là vua Shah, đến gần chiếc xe, mở cửa xe, và chùi người vào bên cạnh ông. Một cách kín đáo, người tài xế lùi khuất vào trong bóng đêm.
“Chào buổi tối, Ông Roosevelt,” vị quốc vương lên tiếng, chìa tay ông ta ra. “Trẫm không thể nói là trẫm mong đợi gặp lại khanh, nhưng đây là một điều thú vị.”
Roosevelt đã nói với vua Shah là ông ta đang ở Ba-Tư nhân danh cơ quan tình báo của Anh Quốc và Hoa Kỳ, và đó sẽ được xác nhận chứng thực bằng một mật mã mà vua Shah sẽ nghe được từ đài phát thanh BBC (British Broadcasting Corporation – Anh) vào đêm hôm sau. Churchill đã sắp đặt cho đài BBC sẽ kết thúc chương trình phát thanh trong ngày bằng không phải câu nói bình thường “Bây giờ là giữa đêm”, mà là “Bây giờ là đúng nữa đêm”. Sự bảo đảm như thế thật là không cần thiết, vua Shah đã đáp lời. Hai người đã hiểu nhau.
Vậy thế mà, vua Shah vẫn lưỡng lự gia nhập vào cuộc âm mưu. Ông không phải là nhà mạo hiểm, ông ta đã nói với Roosevelt, và không thể liều lĩnh như một người như vậy. Giọng nói của Roosevelt trở nên đanh thép. Ông bảo vua Shah, nếu để ông Mossadegh nắm quyền hành như hiện tại, sẽ “đưa đến một chế độ cộng sản ở Ba-Tư hay là một Triều Tiên thứ hai,”, cái mà những nhà lãnh đạo tây phương không chuẩn bị để chấp nhận. Để tránh chuyện đó xảy ra, họ đã chấp thuận một mưu đồ lật đổ ông Mossadegh – và, vô hình chung, lại tăng quyền hành của vua Shah. Ông ta phải chấp nhận nắm lấy thời cơ này trong vòng vài ngày; nếu ông ta từ chối, Roosevelt phải rời Ba-Tư và sắp đặt “những kế hoạch khác”.
Vua Shah đã không trả lời trực tiếp vào câu nào. Hãy để chúng ta gặp nhau một lần nữa vào đêm mai, ông ta yêu cầu. Rồi ông ta xoay qua mở của xe. Trước khi bước ra đi vào trong bóng tối của màn đêm, ông đã nhìn lại Roosevelt và nói: “Trẫm hân hoan chào đón khanh đến đất nước trẫm một lần nữa.”
Từ đêm đó về sau, Roosevelt đã hội ngộ với vua Shah hầu như mỗi giữa đêm, nhập vào khu vực hoàng cung cũng dưới cái mền đó, trong băng ghế sau đó, và cũng chiếc xe đó. Trước khi đi và sau khi về những buổi họp như vậy, ông ta có bàn bạc hội ý với những người mật vụ Ba-Tư. Khi cảnh sát địa phương bắt đầu nghi ngờ ngôi biệt thự của ông, ông liền chấm dứt dùng nơi này để chỉ huy công việc và tính kế khác cho cách triệu tập những cuộc hội nghị. Ông kiếm được một chiếc xe taxi Tehran, và khi đến giờ đã xác định trước, ông lái đến một góc đường vắng, lúc nào dấu hiệu “Có Khách” cũng được bật sáng. Ở đó ông sẽ đậu xe và bắt đầu đi bộ cho đến khi một điệp viên nào đó của ông – thường thì là đang hồi hộp, hiếu động, căng thẳng với lượng adrenaline đang bơm lên cao độ trong mạch máu vì điệp vụ - đón ông trong một chiếc xe Chrysler hay Buick. Họ đặt kế hoạch chiến thuật hằng ngày trong khi cho chạy xe lòng vòng qua những đường đồi ở ngoại ô thành phố.
Trong những cuộc nói chuyện với vua Shah, Roosevelt cho biết ông có “một số ngân khoản ngang bằng với khoảng một triệu đô-la” để tùy ý sử dụng, và một vài người “rất có khả năng, những chuyên gia tổ chức” mà họ có thể “phân phối sách, báo, tờ rơi tuyên truyền, tổ chức băng đảng, theo dõi những phe đối lập – cần bât cứ gì, cho họ biết họ sẽ làm liền.” Ông đã trình bày Điệp Vụ Ajax là “một cuộc tấn công với 4 mũi dùi”. Thứ nhất, một chiến dịch trong các nhà thờ đền đài Hồi Giáo, báo chí, và trên đường phố để phá hoại gây suy sập sự ủng hộ của quần chúng đối với Mossadegh. Thứ hai, những sĩ quan quân đội của phe hoàng gia sẽ đưa ra một sắc lệnh cách chức ông ta. Thứ ba, những băng đảng du thủ du thực sẽ xuống đường và chiếm giử kiểm soát đường phố. Thứ tư, Tướng Zahedi sẽ nỗi dậy trong chiến thắng và chấp nhận đề cử của vua Shah vào chức vụ Thủ Tướng.
Đó là một kế hoạch rất quyến rũ nhưng không hoàn toàn thuyết phục, và vua Shah tiếp tục khắc khoải. Thái độ của ông ta trở thành “phân vân một cách cứng đầu”, theo lời của ông Roosevelt. Thế nhưng sẽ “không có hy vọng gì để tiến hành khi không có vua Shah,” Roosevelt đánh điện về cho những cấp trên ở CIA của ông, và ông tiếp tục tăng thêm áp lực. Cuối cùng, không thể tránh được, sức kháng cự của vua Shah sập đỗ. Ông ta đồng ý ký những firmans (sắc chỉ), tên gọi của những sắc lệnh hoàng gia, nhưng chỉ trong điều kiện là ông được phép rời Ba-Tư đến một nơi an toàn hơn ngay lập tức sau đó.
Mohammad Reza Shah chưa từng được biết đến là một người can đảm, vì thế chuyện thận trọng cẩn thận này đã không gây ngạc nhiên cho Roosevelt. Hai người quyết định nơi an toàn nhất cho vua Shah ẩn trốn là một trại săn bắn bảo quản bởi gia đình hoàng gia gần Ramsar ở bờ biển Caspian. Gần kế bên nơi đó có một bãi đáp máy bay làm cho vua Shah càng thêm an lòng vững dạ.
“Nếu chuyên bị vở lỡ bỏi vì một lý do xui xẻo nào đó” ông nói thẳng thừng với Roosevelt, “Hoàng Hậu và trẫm sẽ bay thẳng qua Baghdad.”
Hai người gặp nhau lần cuối cùng vào lúc trước khi bình minh ngày 9 tháng 8. Trước khi từ giã tiễn vua Shah, Roosevelt cảm thấy nên cám ơn ông cho sự quyết định hợp tác của ông, mặc dầu là với sự miễn cưỡng. Đây là một thời điểm lịch sử, và một điều ngoại lệ vượt tính thông thường cũng thích hợp. Roosevelt đã thần kỳ nghĩ ra một cách thêm thắt vào lời truyền đạt của mình.
“Tâu Bệ Hạ, hạ thần đã nhận được một điện tín vào sớm tối này từ Hoa Thịnh Đốn,” ông ta nói lòng vòng. “Tổng Thống Eisenhower đã yêu cầu hạ thần chuyển đến những lời sau đây: ‘Tôi chúc Hoàng Đế thành công mỹ mãn. Nếu hoàng tộc Pavali và dòng họ Roosevelt cùng chung sức làm việc mà không giãi quyết được một vấn đề nhỏ này, thì sẽ không có hy vọng trong bất cứ ở nơi đâu. Tôi hoàn toàn tin tưởng là Bệ Hạ sẽ hoàn tất công việc này.’”
Chuyện được đồng ý là sáng ngày hôm sau, một người đưa thư của CIA sẽ mang những sắc lệnh firmans có tính cách sống còn này đến cho vua Shah. Nhà vua sẽ ký những sắc lệnh này và lập tức bay đến nơi ẩn trú tại Ramsar. Tất cả đều có vẽ được sắp đặt hoàn hảo.
Khi Roosevelt trở lại biệt thự của ông với cái tin tốt lành ấy, ông ta và những viên mật vụ của ông đã ăn mừng bằng một cuộc chèn chén say sưa cởi mở và hồ hởi. Cuối cùng ông đã leo được vào giường ngũ vào lúc 5 giở. Một vài tiếng đồng hồ sau, ông đã bị đánh thức bởi những câu chửi rủa của một trợ tá. Có sự thất bại trong giờ phút cuối. Người đưa thư mang trọng trách lấy chữ ký của vua Shah đã đến cung điện hoàng gia trễ. Khi ông ta đến nơi, cặp vợ chồng hoàng gia đã đi mất.
Không biết đó chỉ đơn giãn là một cuộc hẹn bị lở, hay là một sự cố gắng cuối cùng của vua Shah trốn chạy chuyện ký những sắc lệnh firmans, nhưng Roosevelt nhất quyết là không để cho vấn đề này lật đổ kế hoạch của ông. Những sắc lệnh firmans này mang một vai trò không thể thiếu được trong cuộc âm mưu mà ông ta đã thiết kế. Chẳng những nó mang lại một chút hợp pháp mà còn là nguyên tắc trọng chính của điệp vụ này. Nếu vua Shah không có mặt ở Tehran để ký nó, thì nó phải được đưa đến bất kỳ nơi nào ông ta đang trú ngụ.
Nhân vật có khả năng xứng đáng nhất để trợ giúp trong thời điểm này, Roosevelt mau lẹ nhận thức, đó là Đại Tá Nasiri của Vệ Binh Hoàng Gia. Ông này là một người trung thành với hoàng tộc, có thể tìm được và điều khiển được một chiếc máy bay, và đang có một mối quan hệ mật thiết với nhà vua. Sự sắp đặt diễn ra mau chóng, và lần này sự chắp nổi đã thành công. Nasiri đã bay đến Ramsar, lấy được chữ ký nguệch ngoặc của vua Shah trên cả hai sắc lệnh firmans, và sau đó, vì thời tiết đã ngăn cản ông ta không cho máy bay phi hành, ông đã gửi những sắc lệnh này về bằng xe hơi.
Roosevelt và những đồng chí của ông bỏ nguyên ngày sốt ruột nằm chờ đợi chung quanh hồ bơi của ông, mà không biết vì lý do gì Nasiri lại lâu lắc thế kia. Đến khi màn đêm buông xuống, họ bắt đầu hút thuốc, đánh bài, và uống rượu vodka với chanh. Tehran đang ở trong tình trạng giới nghiêm 9 giờ tối, nhưng sau khi thời điểm này đã trôi qua, họ vẫn còn hy vọng là sẽ có người về đến. Đến gần nữa đêm, khi họ nghe tiếng kêu vang ở ngoài cổng. Họ chạy ra mở cổng. Ở ngoài là một đám nhỏ gồm những người Ba-Tư chưa cạo râu và đang rất sôi nổi, phần đông là những người mà họ không nhận ra. Họ đã đẩy cho Roosevelt một gói nhỏ, ông ta mở một cách thận trọng. Ở trong đó là hai sắc lệnh firmans, ký đích thực bởi Hoàng Đế.
Sau khi hân hoan mừng rở đón chào những người bạn mới, Roosevelt cân nhắc thời gian nhanh chóng nhất để ông có thể hành động. Ông ta đã thêm một lần nữa thất vọng khi những viên mật vụ của ông cho biết là sẽ phải có thêm một trì hoãn. Cuối tuần, đó là những ngày lễ người Ba-Tư tôn trọng vào thứ Năm và thứ Sáu, đang sắp sửa bắt đầu, và người Ba-Tư không thích làm việc, nói chi đến việc lật đổ chính phủ, vào cuối tuần. Roosevelt miễn cưỡng chấp nhận phải hoãn lại cuộc đảo chánh đến ngày tối thứ Bảy, 15 tây tháng 8.
Tự tin về kế hoạch của mình, nhưng bọn họ ai cũng nhận thấy rõ là mỗi giờ trôi qua làm tăng lên cơ hội bị phản bội. Roosevelt và đám đồng chí của ông đã chịu đựng ba ngày đau khổ bên bờ hồ bơi trong biệt thự của ông. Ngày thứ Bảy là ngày chịu đựng khó khăn nhất vì thời điểm cho sự thật đã gần kề. Roosevelt đã viết về ngày đó như sau: “ thời gian di chuyển chậm chạp hơn tất cả những gì chúng tôi đã sống qua trước đây.”
Đến lúc này thì Roosevelt đã di chuyển trung tâm chỉ huy của ông xuống
tầng hầm dưới trong tòa đại sứ Mỹ. Những viên mật vụ Ba-Tư của ông ta ít đến viếng ông hơn, nhưng họ bận rộn hơn bao giờ hết với những công tác có tính chất lật đổ của điệp vụ. Như trong một bản báo cáo về cuộc đảo chánh của CIA cho thấy rõ ràng:
“Đến thời điểm này, chiến dịch tâm lý chống phá ông Mossadegh đã đạt đến cao điểm. Các báo chí có thể điều khiển được đã ra hết sức chống ông Mossadegh, trong khi [ĐÃ XOÁ BỎ] dưới sự hướng dẫn của cơ quan đã in những tài liệu mà trạm CIA Tehran cảm thấy có ích lợi. Những điệp viên CIA đã đặc biệt chú ý đến việc cảnh báo giới lãnh đạo tôn giáo ở Tehran bằng cách phát hành phản tuyên truyền trên danh nghĩa của đảng [cộng sản] Tudeh, hăm dọa những nhà lãnh đạo này với những sự trừng phạt dã man nếu họ chống đối lại ông Mossadegh. Những cú điện thoại hăm dọa đã được gọi đến họ, trên danh nghĩa của đảng Tudeh, và một trong những cuộc nổ bom giả mạo đã được cho xảy ra ở nhà của những người lãnh đạo này.
Tin vua Shah ủng hộ trực tiếp hành động này trên danh nghĩa cá nhân ông đã được truyền bá mau lẹ qua cái “âm mưu của đại tá” được nuôi dưỡng và quảng bá bởi trạm CIA Tehran. Zahedi đã gặp mật vụ viên chủ yếu của trạm, Đại Tá [ĐÃ XÓA BỎ], và chỉ định ông ta là sĩ quan liên lạc với người Mỹ và là người ông chọn để giám sát nhân viên đặt kế hoạch cho hoạt động này…
Vào ngày 14 tháng 8, trạm này đã điện tín cho biết là đến lúc kết thúc của TPAJAX, chính quyền Zahedi, với dự kiến ty ngân khố quốc gia sẽ rỗng tuếch; sẽ gấp rút cần tiền sung quỹ. Tổng số $5,000,000 đã được dự trù, và CIA đã được yêu cầu phải xuất ra số tiền này gần như trong vài tiếng đồng hồ sau khi kết thúc mật vụ này.”
Bây giờ, theo ngôn từ trong bản báo cáo đó của CIA, “không còn gì để cả hai bên, trạm CIA Tehran và tổng hành dinh CIA có thể làm, ngoại trừ chờ đợi cho hành động bắt đầu.” Khi hoàng hôn bắt đầu phủ trùm xuống Tehran vào ngày 15 tháng 8, Roosevelt đã leo vào chiếc xe taxi Hilman-Minx của mình, lật xuống dấu hiệu “Có Khách”, và lái đến một chỗ an toàn bí mật, nơi mà các viên mật vụ của ông đang tập họp ngồi chờ tin tức chiến thắng. Trong khi rượu vodka chảy dòng, họ hát theo những đĩa nhạc của những bài hát trong các kịch bản Broadway. Bài hát họ ưa chuộng là “May Mắn Là Một Phụ Nữ Tối Nay” từ bản kịch âm nhạc Guys and Dolls (Những Anh Chàng và Những Nàng Búp Bê). Thích hợp với không khí đó, họ đã nhận bài hát đó là bài nhạc hiệu chính thức cho Điệp Vụ Ajax:
“Họ gọi nàng là người phụ nữ may mắn, nhưng vẫn còn chỗ cho sự nghi ngờ;
Có nhiều lúc nàng có một cách rút lui rất không được đoan trang lịch thiệp.
Nàng đang hò hẹn với tôi, cuộc vui nhiều hứa hẹn
Vậy mà trước khi buổi tối qua đi, nàng có thể cho tôi de
Nàng có thể sẽ quên cách xử sự, nàng có thể sẽ cự tuyệt không ở lại
Và thế là tôi chỉ còn biết cách hay nhất là cầu nguyện:
May mắn là người phụ nữ tối đêm nay.”
Trong khi Roosevelt lái xe về tòa đại sứ Hoa Kỳ tối hôm đó, tuyến đường này của ông đã đưa ông ngang tư dinh của Tướng Riahi, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội. Ông đã thích thú với sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nếu kế hoạch của ông thành tựu, Tướng Riahi sẽ bị bắt giam trong vài giờ tới.
Người sĩ quan Roosevelt đã chọn để bắt giam viên tổng tham mưu trưởng và ngài thủ tướng tối hôm đó, Đại Tá Nasiri, có vẽ là nhân vật lý tưởng cho điệp vụ. Ông ta tin tưởng vào địa vị quyền hành tối cao của hoàng gia và không ưa ông Mossadegh. Quyền chỉ huy đội quân Vệ Binh Hoàng Gia với bảy trăm binh lính đã mang cho ông nhiều tài nguyên đáng kể. Bằng việc thành công đạt được những sắc lệnh firmans chủ yếu vào thời điểm quyết định, ông ta đã chứng minh được mức độ tin cậy của mình.
Vào đêm 15 tây tháng 8, tuy nhiên, Nasiri đã không đủ suy nghĩ sáng suốt. Khi ông đến tư dinh của Tướng Riahi thì đồng hồ đã chỉ quá mười một giờ lâu rồi, và ông thấy tư dinh đang bị bỏ hoang. Ông ta đã không quan tâm và chỉ đơn giãn ra lệnh cho binh lính của mình thẳng tiến đến tư gia của ông Mossadegh. Ông không được biết là cùng lúc đó có một đoàn quân cũng đang trên đường tiến đến đó. Tướng Riahi đã biết trước về cuộc đảo chánh và đã mang quân đến chặn đứng nó.
Sự nhận diện kẻ phản bội chưa bao giờ được tìm ra. Phần đông sự suy đoán xoay quanh một sĩ quan quân đội nằm trong một tổ cộng sản. Cũng có thể là có nhiều hơn một kẻ phản bội. Cuối cùng rồi, chuyện đã xảy ra là đúng chính xác chuyện Roosevelt nghi ngại lo sợ. Có quá nhiều người biết sự việc âm mưu qua một thời gian quá lâu dài. Điều lộ bí mật là một chuyện không tránh khỏi.
Trong những giờ phút rối răm vào khoảng giữa đêm, Tehran bùng nổ với đầy những âm mưu và phản âm mưu. Một số sĩ quan biết được chuyện bị phản bội đúng lúc, đã hủy bỏ sứ mệnh của họ. Những người khác, không nhận thức được họ đã bị lộ, vẫn tiến hành. Một người đã chiếm giữ văn phòng điện thoại ở chợ. Một người đã dựng đầu Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Hussein Fatemi dậy từ giường ngũ của ông ta và lôi kéo ông trong chân trần và la hét om xòm.
Tương lai của sự trị vì đất nước bằng hiến pháp ở Ba-Tư tùy thuộc vào đoàn quân nào sẽ đến tư gia của ông Mossadegh trước. Ngay trước một giờ sáng, đoàn quân phiến loạn đã lái đến đường Kakh, đi ngang qua góc Heshmatdowleh, và ngừng lại. Tại nơi này, ông Mossadegh sống với vợ ông ta trong một căn chung cư nhỏ, một phần của khu vực lớn hơn mà gia đình ông sở hửu trong nhiều năm qua. Cổng trước đã khóa. Đại Tá Nasiri bước ra đòi hỏi mở cửa cho vào. Trong tay ông nắm chắc sắc lệnh firman cách chức ông Mossadegh. Sau ông đứng xếp vài hàng đội ngũ binh sĩ.
Đại Tá Nasiri đã đến quá trễ. Không lâu sau khi ông hiện ra trước cổng này, một vài viên chỉ huy trung thành (với chính phủ) đã bước ra từ những khu vực trong bóng tối. Họ đã hộ tống ông đi lên một chiếc xe Jeep và áp tải ông đến bộ tổng tham mưu. Tại đây, Tướng Riahi đã lên án ông là một người phản quốc, ra lệnh cho ông cởi bỏ hết đồng phục, và giam ông vào ngục. Người đáng lẽ phải bắt giam ông Mossadegh bây giờ chính mình lại trở thành tù nhân.
Roosevelt đang ở trung tâm chỉ huy của mình trong toà đại sứ, hoàn toàn không có cách nào biết được bất cứ chuyện gì đang xảy ra, và đang đợi cú điện thoại của Đại Tá Nasiri. Những chiếc xe tăng lách cách với âm vang chạy ngang qua vài lần, nhưng chuông điện thoại thì không bao giờ reo. Mối lo sợ của Roosevelt càng sâu đậm hơn khi bình minh đã bắt đầu ló dạng. Đài phát thanh ra-dô Tehran đã không bắt đầu truyền tin vào sáu giờ sáng như thường lệ. Rồi thì, một tiếng sau, nó đã bắt đầu lách tách trở nên sống động với những nhạc khúc quân sự bùng lên, tiếp nối theo sau bởi một bản tin chính thức. Roosevelt không biết tiếng Ba-Tư, nhưng lo sợ cho sự xấu nhất khi ông ta nghe người xướng ngôn viên dùng chữ Mossadegh. Rồi thì chính ông Mossadegh lên làn sóng phát thanh, tuyên bố đã chiến thắng qua một cuộc đảo chánh hụt được tổ chức bởi vua Shah và “những phần tử ngoại quốc”.
Vua Shah, ngồi co rúm thu hình lại trong biệt thự ở cạnh bờ biển, cũng đang lắng nghe. Ngay sau khi ông nhận thức chuyện gì đã xảy ra, ông dựng đầu vợ ông dậy và nói với bà ta là đã đến lúc phải chạy. Họ mau lẹ sắp xếp hai cái cặp nhỏ, tóm lấy quần áo gì mà họ có thể cầm tay, và đi thoăn thoắt ra chiếc máy bay hai động cơ Beechcraft. Vua Shah, một phi công lành nghề, cầm lấy tay lái và hướng mủi phi cơ đến Baghdad. Sau khi đáp an toàn tại đây, ông đã nói với nhà đại sứ Mỹ là ông ta “sẽ bắt đầu tìm việc làm vì ông ta có một đại gia đình và rất ít tiền của ở ngoài nước Ba-Tư.”
Trong khi vua Shah đã chạy trốn, những đơn vị quân đội trung thành với chính phủ đang phân tỏa ra cùng khắp Tehran. Đời sống trong thành phố mau chóng trở lại bình thường. Một vài người âm mưu đã bị bắt và những người khác đã lẫn trốn. Một số tiền thưởng được công báo cho ai bắt được Tướng Zahedi. Những mật vụ CIA đã chạy thục mạng vể nơi an ninh của tòa đại sứ Mỹ hay những nơi chốn mật an toàn. Những đám người tưng bừng hớn hở xuống đường tung hô khẩu hiệu “Chiến Thắng đến với Quốc Gia” và “Mossadegh đã Thắng”.
Trong khuôn viên của ông ở tòa đại sứ, Roosevelt cảm thấy ông ta hầu như gần “tuyệt vọng.” Ông không còn sự lựa chọn nào mà phải đánh điện về Hoa Thịnh Đốn báo cáo là sự việc đã tiến triễn sai lầm khủng khiếp. John Waller, giám đốc của văn phòng CIA ở Ba-Tư đã đọc với một sự chán ngán thất vọng. Waller lo sợ cho mạng sống của những điệp viên, và ông ta đã gửi cho Roosevelt một hồi âm khẩn. Không có một bản sao nào (của thông điệp khẩn này) được biết còn hiện hửu. Theo truyền thuyết của CIA, đó là một lệnh buộc Roosevelt phải rời Ba-Tư ngay lập tức. Thế nhưng, nhiều năm về sau, Waller đã cho biết nó không phải dứt khoát như vậy. Trong thông điệp đó, theo ông nhớ, là: “Nếu anh đang bị trong thế kẹt, thì thoát đi để không bị sát hại. Nhưng nếu anh không sao, thì anh cứ tiến tới và làm những gì anh cần phải làm.”
Tình hình thật ảm đạm cho những kẻ âm mưu. Họ đã mất lợi thế của yếu tố ngạc nhiên. Một vài mật vụ viên chính của họ đã không còn họat động. Viên thủ tướng họ tấn phong, Tướng Zahedi, đang trong tình trạng lẩn trốn. Vua Shah đã cao bay xa. Tổng Trưởng Bộ Ngoại Giao Fatemi, được thả tự do sau vài giờ bắt giữ, đang đọc những bài diễn văn dử dội ác liệt lên án vua Shah cho việc ông này cộng tác với điệp viên ngoại quốc.
“Ô! Quân phản quốc!” Fatemi mắng nhiếc trước một đám đông. “Một khi ông nghe đài phát thanh Tehran truyền tin âm mưu ngoại bang của ông đã bị đánh bại, ông đã vội vã chạy trốn qua một quốc gia gần nhất có tòa đại sứ Anh Quốc!”
Điệp Vụ Ajax đã thất bại. Đài phát thanh Tehran báo cho biết tình hình đang “dưới sự kiểm soát chặt chẻ,” và hình như đó là như vậy. Những làn sóng kích động, vang dội toàn tổng hành dinh CIA ở Hoa Thịnh Đốn.
Và đột nhiên, vào khoảng giữa buổi tối, Roosevelt đánh điện gửi một thông điệp thật bất ngờ. Ông ta quyết định ở lại Ba-Tư và cố gắng ứng biến thêm lần nữa với ông Mossadegh. Cơ Quan Tình Báo CIA đã đưa ông ta đến để đảo chánh chính phủ Ba-Tư, và ông ta nhất quyết không rời bỏ nơi này cho đến khi ông ta làm được việc đó.
Dịch bởi Alexander Le
Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2009
Chương 1: Chào Buổi Tối, Ông Roosevelt!
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét