“Obama’s Vietnam” by John Barry & Evan Thomas
Newsweek, February 9, 2009
Translated by Alexander Le
Khoảng một năm trước, trên chương trình TV nói chuyện về khuya của Charlie Rose, khi phỏng vấn Trung Tướng Douglas Lute, Cố Vấn Quân Sự tại Tòa Bạch Ốc với trách nhiệm phối hợp nỗ lực trong nước A-Phú-Hãn (Afghanistan) và Ba-Tư (Iraq), đã nói “Chúng ta chưa bao giờ bị đánh bại về chiến thuật trong các trận súng lửa ở A-Phú-Hãn,”. Câu phát biểu này mang một âm vang đáng sợ, cho ngay đến cả những học sinh sơ cấp về Chiến Tranh Việt Nam. Trong nhiều năm sau cuộc chiến, một trong những câu trao đổi biểu tượng về trận chiến Việt Nam giữa Đại Tá Harry Summers, một lịch sử gia quân sự, và một đối tác từ Quân Đội Bắc Việt: theo hồi tưởng của ông Summers, ông đã nói, “Các anh chưa bao giờ đánh bại chúng tôi trên trận mạc.” Người sĩ quan của Quân Đội Bắc Việt đã đáp lại: “Chuyện đó có thể là đúng. Nhưng, nó cũng không còn nghĩa lý gì.”
Những điểm tương tự với trận chiến Việt Nam có thể ngấy chán. Đối với những nhà phê bình, đặc biệt là những kẻ thiên tả thì tât cả những can thiệp của người Mỹ đều có tiềm năng trở thành “những cuộc sa lầy”. Nhưng thỉnh thoảng những lời sáo ngữ này lại hiện thật, và đặc biệt là trong thời gian gần đây, dường như trận chiến ở A-Phú-Hãn đang hình thành với những đường lối đã quá quen thuộc. Sự song song giống nhau thật là đáng lo ngại: một tổng thống háo hức muốn cho thấy sự cứng rắn của ông ta, nguyền sẽ làm những gì cần thiết để “chiến thắng”. Một quốc gia mà chúng ta cho là cần cứu giúp, không phải là một quốc gia hoàn toàn, mà là một chính quyền chia rẽ trầm trọng, một chính quyền có khả năng trở thành bất khả dụng (semi-failed state), cùng với sự bất tài và tham nhũng mà được coi là không hợp pháp với đa số người dân trong nước. Kẻ thù địch quân rất quen thuộc với chiến dịch kháng chiến chống lại quân xâm lược và có phương tiện tránh thoát tiện lợi thích hợp bằng phương cách băng qua bên kia biên giới. Quân lực Mỹ bị kềm chế trong công cuộc tấn công vào những nơi trú ẩn này. Trong khi đó, những quốc gia láng giềng có thể dùng cơ hội này để dìm Mỹ Quốc vào một trận chiến tranh đắc giá. Và cuối cùng là… không có một lối thoát dễ dàng.
Đúng thật, là có những sự dị biệt giữa trận chiến A-Phú-Hãn và Việt Nam. Là một đối thủ, quân Taliban không hùng mạnh và đoàn kết như quân Việt Cộng. Mặt khác, Việt Nam đã không ở tư thế tạo được một mối lo ngại trực tiếp cho nền an ninh quốc gia của Hoa Kỳ; ngay cả những người tin tưởng vào thuyết Domino cũng không nghĩ rằng sẽ thấy quân Việt Cộng đánh giặc ngay trên thành phố San Francisco. Ngược lại, tuy không phải là trực tiếp quân Taliban, nhưng cũng là những người khủng bố được huấn luyện bởi họ, đã tấn công vào thành phố Nữu Ước (New York) và Hoa Thịnh Đốn (Washington, D.C.) vào năm 2001. A-Phú-Hãn lúc nào cũng được xem là một cuộc chiến cần thiết và xác đáng để nhúng tay vào – không giống như (theo nhiều người) trận chiến Ba-Tư. Trong tương lai có thể hình dung được, Đại Tướng David Petraeus, người đã kiến trúc thành công sự vươn lên của Ba-Tư, và hiện tại đang là chủ chốt của Trung Tâm Chỉ Huy điều khiển trận chiến A-Phú-Hãn, sẽ có thể mang lại một sự thay đổi phi thường.
Riêng trong vòng kín đáo thân mật, ông Petraeus đã từng lên tiếng không chấp nhận được sự so sánh cuộc chiến hiện tại với cuộc chiến ở Việt Nam. Ông ta không tin vào chuyện “suy diễn theo lịch sử tương tự” (“history by analogy”) như là một lý do để tránh né nắm lấy những phức tạp ở A-Phú-Hãn. Nhưng, trong cái nổi bật của sự tương tự đó là: ở A-Phú-Hãn, cũng như ở Việt Nam, chúng ta có thể phải đối diện với trường hợp chúng ta có thể thắng hết tất cả chiến trận (battles), nhưng vẫn không thể nào thắng được trận chiến (war) – ít nhất là trong giới hạn của thời gian và phí tổn mà nhân dân Hoa Kỳ có thể chấp nhận được.
Một loạt những báo cáo, chính thức và không chính thức, từ các nhà ngoại giao và quân lính phía Mỹ, cũng như từ phía những nước ngoài (ngay cả từ A-Phú-Hãn) trong hiện tại và quá khứ, tất cả đều đồng ý: tình hình ở A-Phú-Hãn đang càng tồi tệ và trở nên sa sút hơn. Vào khoảng 4 thập niên trước, những nhà tổng thống Mỹ đã quen nghe những báo cáo ảm đạm tối tăm từ Việt Nam, mặc dầu là những tin tức thông báo cho quần chúng thì được tô vẻ cho sáng sủa và khá hơn. John F. Kennedy lo âu cho đến cuối ngày tàn của ông về chuyện bị sa lầy ở một vùng đất xa xôi của Châu Á; LBJ (Lyndon B. Johnson - tổng thống nối ngôi ông Kennedy) thì đã bị ám ảnh bởi những cơn ác mộng về “Bác Hồ”. Trong giới quân sự, xưa cũng như nay, thì con số những người lưỡng lự và nghi ngờ đang tăng lên đáng kể. Nhưng cái câu trả lời muôn thuở để trở thế cờ của những người quân nhân cao cấp trong Quân Đội Hoa Kỳ cũng chỉ là “Có thể làm được, thưa thượng cấp!”, và đó là cái đèn báo hiệu đang nhấp nháy cho tình hình hiện tại. Ở A-Phú-Hãn, cũng như ở Việt Nam, khi nào có nghi ngờ thì giãi pháp tự nhiên là cho cuộc chiến leo thang. Hiện tại đang có 30,000 binh lính Mỹ ở A-Phú-Hãn. Chính-phủ ra-đi của ông Bush cũng như chính-phủ tiếp-nối của ông Obama đều biểu lộ sự đồng ý trên vịêc số quân này cần phải được tăng gấp đôi trong thời gian một năm nữa (hay khoảng gần đó).
Chắc chắn rằng con số 60,000 quân là còn rất thấp xa so với con số nửa triệu quân đã được gửi đến Việt Nam vào thời điểm tột đỉnh của cuộc chiến tranh này; và con số 642 quân lính Mỹ đã tử vong được duy trì đến thời điểm này là thật lu mờ dưới sự so sánh với con số tử vong 58,000 quân ở Việt Nam. Mặc dầu thế, hãy cân nhắc suy xét theo khía cạnh này: đó là một con số tử vong cao hơn số tử vong của lính Mỹ sau thời gian trong cả 9 năm đầu tiên Hoa Kỳ liên lụy đến trận chiến Việt Nam. Và thêm một điều khắc khoải đáng lo nữa là không có một ai trong chính-quyền ra-đi và chính-quyền tiếp-nối cho biết được nhiệm vụ và sứ mệnh của số quân lính bổ sung là gì, ngoài trừ giống như là một loại dụng cụ cứu thương dùng để cầm máu (tourniquet) trong thời gian chờ đợi một ai đó sẽ nghĩ ra một chiến lược khả thi. Câu hỏi khó trả lời nhất là: liệu có một chiến lược nào sẽ thành công hơn trong tình trạng của thời thế hiện tại?
Tuy là còn quá sớm để nói Tổng Thống Obama sẽ có những hành động gì ở A-Phú-Hãn, nhưng có một vài dấu hiệu - khó đọc một cách quả quyết, tuy nhiên cũng có tính chất gợi ý – là sự thật đang bắt đầu chìm lắng vào tâm tư của ít nhiều nhân vật quan trọng của chính quyền mới. Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng Robert Gates, một nhân vật được giữ lại từ chính quyền Bush, lo lắng sự gia tăng con số giầy bottes de saut của quân đội Hoa Kỳ trên A-Phú-Hãn chỉ sẽ quạt tăng lên ngọn lửa ác cảm của người dân địa phương đối với người ngoại quốc. “Chúng ta cần phải rất thận trọng về thực chất của những mục đích chúng ta đặt ra cho chính chúng ta ở A-Phú-Hãn,” ông ta đã nói với một hội đồng dân biểu tuần vừa qua. “Sự lo lắng của tôi là nếu người dân A-Phú-Hãn xem chúng ta như một phần thể của vấn đề, thay vì một phần thể của đáp án, thì như thế kể như chúng ta đã thất bại.”
Việt Nam trước đây trong chỉ nữa vòng trái đất xa cách mà đã dường như là rất xa lạ với nhiều người Mỹ và đa phần những người phương Tây. Thế thì ngày nay, A-Phú-Hãn sẽ như là mặt trăng đối với họ. Ít nhất Việt Nam cũng từng là thuộc địa của Pháp quốc, mặc dầu là một thuộc địa có nhiều rắc rối và bất an. A-Phú-Hãn đã phản kháng sự tiến chiếm làm thuộc địa của ngoại bang, đuổi quân xâm lược Anh vào thế kỷ 19 và Nga vào thế kỷ 20 với nhiều hiệu quả rất tương xứng . “A-Phú-Hãn không phải là một quốc gia, mà nó là một bộ sưu tập của nhiều bộ lạc”, theo một nhà ngoại giao Ả-Rập (Saudi Arabia) (muốn được giấu tên vì không muốn làm mất thể diện một nước Hồi Giáo láng giềng). Ở Việt Nam, chính phủ Ngô Đình Diệm đã bị coi là không chính đáng một phần vì do ông Diệm theo đạo Công Giáo trong một nước với đa số dân chúng là người Phật Giáo, và chính quyền này được dựng lên bởi chính phủ Hoa Kỳ. Ở A-Phú-Hãn, chính quyền (hiện tại) Hamid Karzai đã được thành lập trong sự cần kiếp của thời cuộc bởi chính phủ Hoa Kỳ. Quân lực Hoa Kỳ cùng với những tư lệnh của các đảng phái quân đội địa phương, được hỗ trợ bằng không lực của Mỹ, đã đánh đuổi chế độ Taliban vào năm 2001. Mặc dầu Tổng Thống Karzai đã được bầu ủy nhiệm chính thức vào năm 2004, nhưng vào thời điểm này ông ta đã được sự hậu thuẩn rỏ ràng của chính quyền Mỹ, và trong cuộc bầu cử đó ông ta không có những phe đảng đối thủ thật sự.
Giống như chế độ ông Diệm ở Việt Nam, tham nhũng trong chính quyền hiện tại đang đạt đến mức huyền sử; ngay cả ông Karzai cũng đã nói thế. “Những ngân hàng trên thế giới đang giữ đầy tiền của những chính khách đất nước tôi” ông ta đã tuyên bố trong tháng 11 vừa qua. Ông Ashraf Ghani, cựu tổng trưởng bộ tài chính của chính quyên Karzai, đã xếp hạng chính quyền củ của ông ta là “một trong năm chính quyền tham nhũng nhất trên thế giới” và cảnh báo nước A-Phú-Hãn đang trở thành “một quốc gia xã-hội-đen-ma-túy bất-khả-dụng” (“a failed, narco-mafia state”). Trong một nước có tỷ lệ 7 người trong 10 người sinh sống với khoảng 1 đô-la (U.S Dollar) một ngày, vậy mà một gia đình trung bình hàng năm lại phải trả khoảng 100 đô-la tiền baksheesh, hay là tiền hối lộ (mà ở Việt Nam gọi là “tiền trà” hoặc là “tiền café”). Tiền trợ giúp của nước ngoài là loại tiền thu nhập thông dụng nhất ở A-Phú-Hãn, chỉ xếp hạng sau tiền ma-túy. Nhưng theo sự suy đoán rộng rãi của các giới chức trách thì vì lý do trộm cắp và phương cách quản lý tồi tệ ở Kabul (thủ đô của A-Phú-Hãn) cho nên ít hơn phân nửa số tiền viện trợ của ngoại quốc thật sự tìm được đúng đường đến những dự án đề ra, và chỉ có một phần tư là đến được các vùng thôn quê, nơi mà có 70% dân số cả nước sinh sống.
Đối với A-Phú-Hãn bây giờ, cũng như Việt Nam hồi trước, chính quyền thường là một lực lượng chuyên quyền độc đoán, đáng để sợ hải hơn là một cơ quan bảo vệ nhân ái và công bằng. Thường dân ở Việt Nam hay lo sợ làm phật lòng người nào đó có quyền lực thế cao, và người đó lúc nào cũng có thể bắt họ trao cho người Mỹ với tội danh là cảm tình viên của kẻ thù; sự sợ hải tưong tự đó đang lan tràn khắp trong nước A-Phú-Hãn hiện nay. Khi quân lực Hoa Kỳ đã mau lẹ đập tan chế độ Taliban sau vụ 9/11, nhiều người A-Phú-Hãn đã vui mừng chào đón họ, với thâm tâm là những người Mỹ hùng mạnh này sẽ biến đổi hết đường xá, trường học và kinh tế trong nước họ. Hiện nay, cay đắng đã bắt đầu thành hình. “Người dân A-Phú-Hãn đã nhận được gì từ quân lực liên minh?” Zamir Kabulov, nhà Đại Sứ Nga ở A-Phú-Hãn, đã hỏi. “Họ sống rất nghèo nàn trước đây, và họ vẫn sống trong sự nghèo nàn đó trong hiện tại – nhưng thỉnh thoảng họ lại còn bị thả bom vì lầm lẩn.”
Xây dựng quốc gia ở A-Phú-Hãn có thể là một mục đích không thành tựu được. Những thời gian an bình được đặt dưới một nền thống trị trung ương đã không có nhiều và cách khoảng quá xa. Bạo lực là chuyện bình thường, như lịch sử đã cho thấy về vị vua đế quốc Ba-Tư (Persian king) Nadir Shah, vào thế kỷ thứ 18, sau khi đàn áp một cuộc nỗi dậy đã chặt đầu 6,500 người bộ tộc (số mệnh của những người này đã được định bằng cách bóc thăm). Ông ta đã cho sắp đặt những chiếc đầu này thành một kim tự tháp với xác một người chủ mưu được chôn ngay ở trung tâm của đài đầu lâu này. Nhà ngoại giao Ả-Rập đã chính xác nêu lên quan điểm này: đặc biệt là qua vùng vòng đai, địa bàn của tộc Pashtun ở miền Nam A-Phú-Hãn, những lãnh tụ địa phương có nhiều ảnh hưởng hơn bất kỳ ai đang nắm quyền lực chính phủ ở Kabul. Người Taliban có thể là không chiến đấu cho một quốc thể đích chính, như người Việt Cộng đã làm. Nhưng họ chắc chắn thiên về ảnh hưởng của địa phương, biết nhiều về nguồn rễ của những lực lượng này hơn đoàn quân liên minh đang được lãnh đạo bởi Hoa Kỳ.
Câu thần chú căn bản của phản khởi nghĩa hay phản kháng chiến (counterinsurgency) là: “quét sạch, giữ vững và xây dựng”. Quét sạch vùng có quân khởi nghĩa, kháng chiến quân. Giữ vững để đám quân này không quay trở lại được. Xây dựng hạ tầng cơ sở, quyền công dân và cơ cấu chính phủ để cộng đồng quyết định hỗ trợ chính phủ. Đó là một đường lối cải tiến mạch lạc và chặt chẽ. Nhưng trong lúc binh lính liên minh có thể quét sạch hay hơn kháng chiến quân Taliban, họ lại đơn thuần không giữ vững được như kẻ thù của họ. Sự thật là chính quân lực Taliban đang tiến triễn rất tốt về công tác phản kháng chiến – “quét sạch, giữ vững và xây dựng” là những chuyện họ đang làm khắp miền nam A-Phú-Hãn. Loại công lý hà khắc của họ lôi cuốn được nhiều người A-Phú-Hãn vì dân chúng khắp nơi khao khát một nền trật tự và an ninh. Trong một vài khu vực, những cấp lãnh đạo Taliban còn khôn ngoan nới lỏng những luật lệ không được thịnh hành trước đây (theo luật đạo giáo của họ), thí dụ như việc cho phép các em gái được đi học. Tháng trước, Hội Đồng Quốc Tế về An Ninh và Phát Triển (International Council on Security and Development – ICOS), một hội đồng thận trọng, từ tốn và rất được kính nể toàn cầu, đã báo cáo cho biết lực lượng Taliban “hiện nay đang thường xuyên chiếm giữ 72% của nước A-Phú-Hãn, gia tăng từ 54% của một năm trước”. Họ đang chuyển mũi dùi đến Kabul; theo bản báo cáo của ICOS “ba trong bốn đường đại lộ chính ở Kabul đang bị tổn hại bởi sự hoạt động của Taliban”.
Phía Taliban cũng có một nguồn tài nguyên mà phe Việt Cộng không bao giờ được hưởng thụ: một luồng thu nhập vững bền qua sự mậu dịch quy mô về nha phiến của A-Phú-Hãn. Sản xuất của cây thuốc phiện của xứ sở A-Phú-Hãn chiếm khoảng 93 phần trăm của tổng số thuốc phiện trên thế giới. Mặc dầu trên danh nghĩa, sự bài trừ tiệt rễ vấn đề này đang là một ưu tiên hàng đầu từ năm 2004, nhưng dịch vụ cày cấy và trồng trọt cây thuốc phiện vẫn tăng trưởng trên gấp đôi. Không thể nào chiêu dụ nỗi nông dân đổi sang trồng loại vụ mùa khác được, trừ khi là họ tin tưởng lực lượng Taliban sẽ không trở lại giết họ để trừng trị. Và thêm nữa, họ cần có những lộ trình đi lại an toàn để mang những vụ mùa hợp pháp đến những chợ búa đang họat động. Người Mỹ không có đủ con số binh lính - kể cả của họ và của những binh lính càng ngày càng vỡ mộng của lực lượng NATO (North Atlantic Treaty Organization - Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương) - để thiết lập an ninh cho toàn bộ đường xá và khu vực nông thôn. Đó không phải chỉ là vì diện tích rộng lớn của A-Phú-Hãn (tương tự với tiểu bang Texas, Mỹ), nhưng cũng vì một chiến lược thất bại, (được gợi nhớ đến) như chiến lược ở Việt Nam.
Trên căn bản, Mỹ quốc đã và đang cố gắng thống nhất đất nước A-Phú-Hãn bằng chiến dịch phản kháng chiến. Hậu quả là đa số quân tinh nhuệ và sáng giá nhất của quân đội Hoa Kỳ - Lực Lượng Đặc Biệt – đã bị lạm dụng và xử dụng sai lầm. Phần lớn mọi người đều nghĩ đến Lực Lượng Đặc Biệt là những chiến binh tinh nhuệ với những cú nhảy ra khỏi trực thăng trong những mật vụ nguy hiểm. Nhưng thật ra, cho đến lúc Tổng Thống George W. Bush phát động cuộc Chiến Tranh Khủng Bố Toàn Cầu của ông ta – và Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng Donald Rumsfeld trao cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân Đặc Biệt (Special Operations Command) vai trò lãnh đạo - nhiệm vụ của họ (và có thể tranh cải là mang lại nhiều lợi ích hơn) là huấn luyện tăng tiến cho những quân đội trong các nước đang phát triễn. Ở Việt Nam, lực lượng Mũ Xanh (the Green Berets) đã được đưa vào miền cao nguyên vào thời gian đầu của trận chiến với đặc vụ là huấn luyện những người dân bộ lạc bản xứ thành những chiến sĩ du kích (và họ đã rất thành công).
Mặc dầu thế, sau năm 1972, lực lượng đặc biệt này đã bị hoán chuyển qua những nỗ lực không thành công trong công tác chính là niêm phong và trám lỗ những biên giới tiền tuyến trên miền Nam Việt Nam. Tưong tự như vậy, Lực Lượng Đặc Biệt ở A-Phú-Hãn phần đông được dùng như những đội quân tác chiến dùng để đánh đuổi theo những cấp lãnh đạo của Al Qaeda và Taliban – hay là triển khai dọc theo đường biên giới 1,400 dậm (2,240 cây số) trong nỗ lực chặn đứng kháng chiến quân từ Pakistan – mà không phải là để huấn luyện lực lượng quân đội A-Phú-Hãn. “Sự phát triễn của lực lượng an ninh A-Phú-Hãn rất tồi tệ trong cung cách cai quản, thiếu nhân viên trầm trọng, và nghèo nàn trong quá trình tài trợ lộn xộn bừa bãi”, đó là lời kết luận của nhà phân tích Anthony Cordesman từ Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế (Center for Strategic and International Studies) trong một buổi thuyết trình với những lảnh đạo dân biểu đảng Dân Chủ vào tháng Giêng. Ngay cả việc tài trợ cho sự phát triển của lực lượng A-Phú-Hãn, Hoa Kỳ cũng đã không thật sự triễn khai cho đến năm 2007.
Ngay cho đến nay, Mỹ và liên minh NATO của họ đã cung cấp ít hơn phân nửa số huấn luyện viên cần thiết ở A-Phú-Hãn; và nhiều người trong số này không có kỹ thuật chuyên môn. Hậu quả là quân đội A-Phú-Hãn quá nhỏ và quá xoàng trong việc đào tạo huấn luyện để có thể tiếp quản nhiệm vụ kháng cự lại kháng chiến quân, mà đó là nền cấu tạo chính của trận chiến thật sự ở A-Phú-Hãn. Quân đội A-Phú-Hãn đang bắt đầu triễn khai tốt hơn, nhưng với một tiến trình rất chậm. Những nhân vật Chỉ Huy Trưởng của Hoa Kỳ kín đáo bàn luận rằng… có thể 5 năm hoặc nhiều hơn nữa, những đơn vị này mới hoạt động và hành quân trong độc lập được. Đạo quân Cảnh Sát của A-Phú-Hãn, vẫn còn đang là một thảm hại và rốt cuộc quân lực Hoa Kỳ vẫn phải trám vào khoảng trống không này.
Như ở Việt Nam, những nỗ lực niêm phong biên giới đã không thành công. Phía Taliban, giống như Bắc Việt Nam, chủ yếu tùy thuộc vào các tuyến tiếp viện và các nơi ẩn nấu ngay bên phần đất vượt biên giới. Cũng giống như quân đội Bắc Việt (North Vietnamese Army - NVA) đã có thể di chuyển lên xuống đường mòn Hồ Chí Minh thông qua Lào, phía Taliban có thể biến dạng qua những rặng núi và thoát qua vùng biên giới vô kỷ cương của Pakistan. Những nơi trú quân an toàn này đã cho họ vùng không gian vô giá để huấn luyện và tái thiết bị và tiếp tế. Những chiến sĩ Taliban sẵn sàng quyết tâm chiến đấu hơn, khi họ biết gia đình họ đang được an toàn ở Pakistan, và ngay chính họ cũng có thể rút quân về đó nếu bị thương vong. Một chỉ huy trưởng của Taliban ở Pakistan đã cho binh lính của ông ta năm số điện thoại di động để gọi cứu viện nếu họ bị bắn trong khi chiến đấu với binh lính Hoa Kỳ bên kia biên giới, với lời hứa là họ sẽ được di tản và cứu thương trong cấp bách.
Người Mỹ lại phải rất cẩn thận khi rượt đuổi phe Taliban vào những nơi ẩn nấu của họ. Ở Việt Nam, các chiến lược gia Mỹ lo âu về chuyện đưa Nga Sô hoặc Trung Quốc vào cuộc chiến nếu họ thả bom quá tự do vào Hà Nội và những vùng lân cận (thí dụ như đánh chìm một chiếc tàu hàng của Nga trong hải cảng Hải Phòng). Ở Pakistan, người Mỹ lo âu một cú can thiệp mạnh tay có thể sẽ làm nền chính phủ hiện tại bị mất ổn định… và đó là một nước bài đầy rủi ro đối với một quốc gia đang có vũ khí hạt nhân trong tay. Chính quyền Pakistan có sang sẽ tin tức tình báo về những mục tiêu Al Qaeda – và cũng có lúc phát động những cuộc tấn công vào chiến sĩ Pakistani Taliban dọc theo biên giới – nhưng đồng thời, những nhân viên của cơ quan tình báo Pakistan ISI đã có tạo những liên minh mật thiết với những người trong bè phái Taliban. Pakistan duy trì một chiến lược mang lợi ích riêng cho họ, qua sự thế giữ tình trạng một nước A-Phú-Hãn yếu kém. Người A-Phú-Hãn đã triễn khai một mối quan hệ ràng buộc trọng yếu với kẻ thù không đội trời chung của Pakistan là Ấn Độ. Và một lý do khác là nhiều người lãnh đạo Pakistan đã bị thuyết phục tin tưởng rằng… người Mỹ cuối cùng rồi cũng sẽ ra đi khỏi khu vực lãnh địa, cho nên họ phải nắm cái thế thủ cho cú cá độ này vì tương lai đất nước của họ.
Ở Việt Nam, nước Mỹ đã lo ngại về vấn đề nhạy cảm là người Nga và người Trung Quốc làm hậu thuẩn cho Bắc Việt Nam (có người cho đó là sự lo ngại quá đáng). Ở đây, Pakistan có thể chỉ là một nước duy nhất đang chơi ván bài đi nước đôi. Trong khi ở nước láng giềng Ba Tư, nơi mà người Shiite là chủ yếu, đã có truyền thống trợ giúp kẻ thù của phe Sunni Taliban trong khối Liên Minh Miền Bắc (Northern Alliance). Tehran (thủ đô Iran) cũng có thể là nguồn tiếp vận của những bom ngòi nổ tự chế IED (Improvised explosive detonator) đã có mặt ở chiến trường A-Phú-Hãn. Dĩ nhiên là Ba Tư cũng có ý mong mỏi trông thấy quân lực Mỹ trên biên giới của họ phải đổ máu thêm một chút. Mặc dầu vậy, đôi lúc Hoa Kỳ có thể là kẻ địch độc hại nhất cho chính mình trên chiến trường A-Phú-Hãn. Vì không đủ quân lính, và bắt buộc phải kiểm soát cả một vùng rộng lớn, nên quân lực Hoa Kỳ phải lệ thuộc quá nhiều đến không-yểm từ những máy bay A-10, F-15, ngay cả máy bay thả bom B-1. Vào năm 2004, Không Quân Hoa Kỳ đã phát động 86 phi vụ (sorties) đánh điểm vào những mục tiêu ở A-Phú-Hãn. Đến năm 2007, con số đó tăng lên đến 2,926 – và đó là không kể đến những sorties họa tiễn và đạn đại bác được bắn từ những trực thăng chiến đấu. Những chỉ huy trưởng của quân lực Hoa Kỳ đã rất cẩn thận về những thiệt hại phụ (collateral damages) sau trận chiến Việt Nam. Không còn những “vùng oanh tạc tự do” (free fire zones), hay lính Thủy Quân Lục Chiến dùng hộp quẹt Zippo để đốt làng mạc. Mặc dầu thế, những người dân vô tội vẫn chết trong những cuộc hành quân đã được lên kế hoạch thật kỹ càng và chính xác. Đặc biệt là khi kẻ thù bất chấp luân lý, dùng thường dân để làm tấm chắn hàng rào che như phe Taliban đang làm. Theo Liên Hiệp Quốc, số thường dân tử vong đã leo thang từ 929 vào năm 2006 đến gần 2,000 vào năm 2008. “Khi chúng ta giết hại dân lành, đặc biệt là đàn bà và trẻ em, chúng ta sẽ mãi mãi mất (sự ũng hộ của) cả làng đó,” ông Thomas Johnson, của trường Hậu Đại Học Hải Quân ở Monterey, California, đã cảnh báo. Trong các bộ lạc phần đông là bộ tộc Pashtun, trả thù là một bổn phận. Một Đại Tá trong Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ (xin dấu tên để được phát biểu ý kiến trung thực) đã buồn rầu lên tiếng, “nếu giết chết một người trong bộ tộc Pashtun, là bạn đã mang thêm gánh nặng tạo ra 3 người nữa thề sẽ là kẻ thù của bạn”.
Đây là cuộc chiến đang rối nùi mà Đại Tướng Petraeus phải đương đầu. Ông ta đã hoàn thành nhiệm vụ gần như là một huyền diệu trong trận chiến Ba Tư, (và nó giống như là khi Tổng Thống Lincoln cuối cùng tìm được Tướng Grant), Tổng Thống Obama rất may mắn được thừa hưởng Tướng Petraeus. Đến nay, Tướng Petraeus chưa ra hiệu một chiến lược quy mô nào mới, thay vì thế ông ta chỉ để cho những phê duyệt của chính sách hiện hửu được tiến hành. Là một chính trị gia khôn ngoan, có thể ông ta đang âm thầm dạy dỗ tân tổng thống vể cái giá phải trả rất đắc và thời gian tốn phí nhiều năm để có được một “chiến thắng” ở A-Phú-Hãn - nếu mà chuyện đó có thể xảy ra!
Chắc chắn là Tướng Petraeus sẽ có ý muốn thống nhất những bộ chỉ huy hiện tại đang làm rối ren tình trạng ở A-Phú-Hãn. (Bộ chỉ huy bị phân chia cũng là một vấn đề kinh niên ở Việt Nam). Một số binh chủng báo cáo với Bộ Chỉ Huy Hành Quân Đặc Biệt (Special Operations Command), một số trình báo với quân đội chính quy, một số thi hành theo Bộ Chỉ Huy Trung Ương Hoa Kỳ (U.S. Central Command), và một số lại theo chỉ thị của lực lượng NATO. Và ngay trong lực lượng khối NATO, mỗi bộ chỉ huy của mỗi quốc gia lại báo cáo về chính phủ riêng của nước họ. Ở A-Phú-Hãn hiện đang có khoảng 37,000 binh lính NATO, nhưng phần lớn chỉ lo “bảo toàn lực lượng” – không gây ra thương vong – hơn là săn đuổi và giao chiến với địch quân.
Tướng Petraeus sẽ làm việc chặt chẽ với ông Richard Holbrooke, một nhà cựu ngoại giao đã giúp môi giới nền hòa bình ở khu vực Balkans. Ông Holbrooke đã được gửi đến bởi Bộ Ngoại Giao để phối hợp những chương trình trợ giúp từ nước ngoài đang bị phân tán mọi nơi và dễ bị trộm cắp vì tham nhũng; và cũng để đối đầu với các nhà ngoại giao, chính khách, và binh lính ở A-Phú-Hãn, trong trọng trách mang đến một tâm ý thống nhất trên chiến lược. Ông Holbrooke là một sức mạnh vũ bảo của thiên đình, tuy thế, sợ rằng ông ta có thể sẽ kết thúc giống như ông Robert Komer (Blowtorch Bob – Bob súng hàn sắt) ở chiến trường Việt Nam vào những năm cuối của thập niên 1960 – một người tài ba lỗi lạc, năng lực phi thường… và đã xuất hiện quá muộn!
Trên một khía cạnh nào đó, không có điều bí ẩn gì về chuyện gì phải làm để chiến đấu thành công trong một cuộc chiến tranh chống kháng chiến. Như Tướng Patraeus cũng đã từng tuyên bố, Hoa Kỳ không thể chỉ chém giết để đi đến thành công. Lính ngoại bang không thể đánh bại kháng chiến quân. Chỉ có những lực lượng địa phương với sự yểm trợ của nhân dân mới làm được chuyện đó. (Một cuộc nghiên cứu của RAND Corporation đã cho thấy từ sau Đệ Nhị Thế Chiến “các chính phủ đánh bại được ít hơn một phần ba các cuộc kháng chiến, trong khi các lực lượng kháng chiến quân này chỉ có năng lực với mức trung bình hay tồi.”) Tướng Petraeus sẽ muốn lính Mỹ huấn luyện dân vệ địa phương để kháng cự lại phe Taliban. Sự thật là người Nga Sô đã cố gắng làm việc này (không có gì mới mẻ trong công cuộc chiến đấu phản lại kháng-chiến-quân)… và đã thất bại ê chề. Ở A-Phú-Hãn, những thủ lãnh địa phương thường mau lẹ trong việc đánh chiếm lẫn nhau. Câu tục ngữ của dân địa phương là họ có thể được thuê, nhưng họ không để mua chuộc. Và ai muốn giết một tay súng Taliban khi kết quả là một mối cừu hận máu me chết chóc trường kỳ?
Người Mỹ đáng được ngờ vực về cơ hội thành công ở A-Phú-Hãn. Một cuộc thăm dò ý kiến của báo Newsweek cho thấy trong khi 71% dân chúng tin tưởng Tổng Thống Obama có thể kéo nền kinh tế trở lại thịnh vượng, thì chỉ có 48% tin ông ta có thể mang lại tiến triễn khá hơn ở A-Phú-Hãn. Triễn khai một lực lượng Hoa Kỳ với 60,000 quân sẽ có tổn phí khoảng $70 tỷ đô la một năm. Huấn luyện và yểm trợ một quân đội thích hợp cho A-Phú-Hãn với khoảng 130,000 đến 200,000 quân sẽ mất thêm cả một thập niên, và phí tổn có thể lên đến $20 tỷ đô la. Tướng Petraeus đã nhất quán cảnh báo, A-Phú-Hãn sẽ là “một chiến dịch dài nhất trong cuộc chiến tranh lâu nhất” trong cuộc chiến chống lại những người Hồi Giáo cực đoan. Đó là một điểm rất xa so với điều mong muốn của người Mỹ có lòng kiên trì cho sự cam kết lâu dài này. Đôi với dân chúng Mỹ, sau nền kinh tế, ưu tiên tối cao là y tế và sức khỏe cộng đồng (36%). Chỉ có 10% cho vấn đề A-Phú-Hãn được nằm trên đầu của danh sách của ưu tiên quốc gia, và đó là còn ít hơn phần số cho Ba Tư. Nếu không có cải tiến hiện thực trên mặt trận A-Phú-Hãn, đến năm 2010 cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, các ứng cử viên có thể sẽ kêu ca ta thán… đó là “Cuộc Chiến của Obama”!
Vậy thì tại sao không rút lui? Như mọi chuyện trên đời này, không đơn giãn như vậy. Nếu người Mỹ rút quân trong hiện tại, thì lực lượng quân đội đang thành hình của A-Phú-Hãn có thể sẽ bị sụp đổ. (Khi quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị mất yểm trợ bởi Không Quân Hoa Kỳ, đôi khi họ khước từ và chùn bước khi phải ra mặt trận chiến đấu). A-Phú-Hãn rất có thể sẽ lao vào vòng nội chiến, giống như sau khi Nga Sô đã rút lui vào năm 1989. Chưa gì mà người bộ tộc Pashtuns ở miền nam đã xem người Tajiks, (được Hoa Kỳ hậu thuẩn) trong phần số đông của chính quyền Karzai, là kẻ thù rồi. Phe chiến thắng hầu như sẽ là phe có được sự hậu thuẩn của Pakistan, và đó có thể là phe Taliban - giống như cuộc nội chiến vừa qua.
Một vài người tranh luận rằng, đó không phải là một kết quả xấu, nếu như có thể hối lộ hay khuyến dụ phe Taliban về chuyện không cho phép phe Al Qaeda đặt doanh trại huấn luyện những kẻ khủng bố trong vùng lãnh thổ của A-Phú-Hãn. Theo một nhân vật cao cấp của cấp lãnh đạo Taliban (người cựu Phó Bộ Trưởng của chính phủ Mulla Mohammed Omar), thì những viên chức chính quyền Pakistan đang thúc giục quân kháng chiến tiến hành chính sách này - để ngược lại được đặc quyền thương thuyết trực tiếp với người Mỹ. Trên khía cạnh khác, Islamabad (thủ đô của Pakistan) có thể đang chơi với lửa. Qua lịch sử của mối liên kết ràng buộc lâu dài giữa người Pakistan và phe Taliban ở A-Phú-Hãn, một quốc gia với thánh-chiến-quân (jihadists) nằm ngay sát biên giới của mình là một sự đe dọa cho Pakistan. Và ngay tại đây, vì nền an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, chắc chắn Hoa Kỳ sẽ phải nhảy vào cuộc và khai mào.
Nhiều vấn đề không có giãi đáp, hoặc một giãi đáp thích nghi. Hai công trình nghiên cứu về vấn đề rối ren ở A-Phú-Hãn được phó chủ tọa bởi Đại Tướng Thủy Quân Lục Chiến Jim Jones (hiện là Cố Vấn An Ninh Quốc Gia cho Tổng Thống Obama), khẳng định là người Mỹ không thể thất bại ở A-Phú-Hãn. Không ai muốn trở thành người tổng thống Mỹ đã cho phép thánh-chiến-quân được quyền tuyên bố chiến thắng và đánh bật người Mỹ ra khỏi lãnh thổ A-Phú-Hãn. Daniel Ellsberg, người làm thầu với chính phủ Hoa Kỳ đã lộ bí mất về những văn bản của tòa Ngũ Giác Đài (the Pentagon) đã từng phát biểu ý kiến về trận chiến Việt Nam: “Lúc nào cũng là năm xấu (không đúng lúc) để rút quân khỏi Việt Nam”. Đó cũng là sự thật xác định về trường hợp hiện tại của cuộc chiến A-Phú-Hãn.
(Với sự cộng tác của Ron Moreau và Sami Yousafzai)
Dịch bởi Alexander Le
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét