Thứ Tư, 17 tháng 6, 2009

Preface to the 2008 Edition - All the Shah's Men - by Stephen Kinzer

Sự Dại Dột trong Ý Đồ Tấn Công Ba-Tư
(The Folly of Attacking Iran - All the Shah's Men)
(Stephen Kinzer)
Dịch bởi Alexander Le



Trên một nữa thế kỷ đã trôi qua từ khi Hoa Kỳ (the United States) lật đổ chính quyền dân chủ độc nhất mà Ba-Tư (Iran) đã có được từ trước đến nay. Cuốn sách này sẽ trình bày cuộc diễn biến định mệnh đã xảy ra và xét lược những hậu quả tai hại của nó. Nó nói lên một câu chuyện mà nên được dùng làm một bài học tiêu biểu về đề tài này. Sự can thiệp vào Ba-Tư bằng bạo lực trong năm 1953 đã được xem là một ý tưởng tốt vào thời điểm đó, và nó đã có vẽ thành công trong một thời gian sau đó. Thế nhưng trong hiện tại, nó cho thấy rõ ràng sự can thiệp này đã không những mang đến cho đất nước Ba-Tư nhiều thập niên bi thảm, mà còn tạo ra những động lực đưa đến sự xoái mòn trầm trọng nền an ninh quốc gia của người Mỹ (American).

Trong lúc những nhà quân sự ở Hoa Thịnh Đốn (Washington) đang thúc đẩy cho một cuộc tấn công thứ hai của người Mỹ vào Ba-Tư, câu chuyện này càng mang thêm tính chất thích đáng một cách khẩn cấp hơn bao giờ hết. Nó đưa ra cái sự dại dột trong lối dùng bạo lực để cố cải cách Ba-Tư. Vào năm 1953, Hoa Kỳ đã tấn công chính phủ Ba-Tư, một chính phủ mà họ không chấp thuận trong quá trình tìm cách tăng tiến những quyền lợi chiến lược của họ. Kết quả là những điều hoàn toàn trái ngược theo ý mong muốn của các nhà lãnh đạo Mỹ.

Nếu Hoa Kỳ đã không gửi những nhân viên đặc vụ vào Ba-Tư để lật đổ Thủ Tướng Mohammad Mossadegh vào năm 1953, nước Ba-Tư có lẽ đã tiếp tục thẳng tiến trên con đường dẫn đến một nền dân chủ toàn diện. Qua những thập niên tiếp nối, Ba Tư có lẽ đã trở thành quốc gia dân chủ đầu tiên trong vùng Hồi Giáo Trung Đông (Muslim Middle East), và chắc đã có cơ hội trở thành một quốc gia kiểu mẫu cho các nước trong khu vực và lan rộng ra xa hơn nữa. Sự thể như thế hẳn đã thay đổi dòng lịch sử một cách sâu sắc - không chỉ đơn thuần lịch sử của Ba-Tư hay là miền Trung Đông, mà ngay cả lịch sử của Hoa Kỳ và cả thế giới.

Theo cách nhìn hôm nay – cách nhìn của những ai đã sống qua những cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9, cuộc chiến Iraq, và tất cả những mối đe dọa hiện hửu đã nỗi lên làm mất ổn định tình hình thế giới ngày nay - cuộc can thiệp vào Ba-Tư năm 1953 có thể nhận định là một điểm rẽ quyết định trong lịch sử của thế kỷ thứ 20. Khi đưa ông Mohammad Reza Shah trở lại “Ngai Vàng Con Công” (Peacock Throne), Hoa Kỳ đã đưa một nền dân chủ đang thành hình (trong quá trình diễn tiến lâu và chậm) của Ba-Tư đến một điểm ngừng ngang đột ngột. Vua Shah đã thống trị với sự đàn áp tăng dần theo thời gian hai mươi lăm năm ông đã nắm giữ quyền hành. Sự đàn áp của ông ta đã dẫn đến sự bùng nổ của những năm cuối của thập niên 1970 mà sau này được biết đến với cái tên “Cuộc Cách Mạng Hồi Giáo” (the Islamic Revolution). Cuộc cách mạng này đưa những phe đảng giáo sĩ cuồng tín lên nắm quyền hành; họ là những người hăng say chống đối người Tây Phương, và nhiều lúc hành động với bạo lực, trong công việc phá hoại những quyền lợi của người Mỹ trên thế giới.

Vào năm 1953, Hoa Kỳ đã lật đổ một nhân vật Ba-Tư theo chủ nghĩa dân tộc, người mà đã từng ôm chặt đón nhận lấy những nguyên tắc cơ bản của người Mỹ, để thay thế ông ta với một kẻ bạo chúa chuyên quyền, người mà đã từng khinh miệt những gì tiêu biểu của nước Hoa Kỳ. Ngày nay, thế giới phương tây đang thấy mình đối diện với một chế độ ở Tehran (thủ đô của Ba-Tư) với hiện thân của những đe dọa khôn lường và sâu đậm hơn thập phần so với cái chế độ mà họ đã nghiền nát năm 1953. Trong tòa Bạch Ốc (the White House), sức thôi thúc cho một cuộc tấn công Ba-Tư hiện nay, dường như vẫn mạnh mẻ như thời kỳ xa xôi đó. Không khó để tưởng tượng về một cuộc tranh luận của những tay cố vấn của Tổng Thống Bush khi tìm cách để thuyết phục ông ta. Họ sẽ nói: Chúng ta đã chịu tổn thất nặng nề trong những cú đánh tấn công của ngày 11 tháng 9 vì cựu Tổng Thống Clinton đã không đủ táo bạo để giệt một sự hăm dọa đang phát triễn; vậy thì chúng ta hãy hành động dũng khí như các đấng nam nhi thật sự mà tiêu diệt cái hăm dọa đang phát triễn hiện nay, còn hơn là chừa nó lại cho một chính phủ về sau.

Tại sao tấn công Ba-Tư? Những người có ý thuận trong việc này dẫn chứng nhiều viện lẽ: Ba-Tư không thể được cho quyền chấp nhận để trở thành một quốc gia với sức mạnh vũ khí hạt nhân; Ba-Tư đang ở tư thế là một mối đe dọa hiện thực về sự hiện hửu của nước Do Thái (Israel); Ba-Tư nằm trong trọng tâm của đảng phái hồi giáo “Lưỡi Liềm Shiite” (Shiite crescent) đang vươn lên, đó là đảng phái đang gây ra mất ổn định ở vùng Trung Đông; Ba-Tư ủng hộ những phần tử phản kháng các chính quyền trong những nước lân cận; Ba-Tư đang trợ giúp những kẻ thù đang giết chết quân lính Mỹ ở Iraq; Ba-Tư đã ra lệnh cho tấn công khủng bố vào những quốc gia khác trên thế giới; người dân Ba-Tư đang bị áp bức và cần được người Mỹ giãi phóng họ.

Cũng có những cuộc bàn cải về lý do “chính trị địa lý” khu vực (geopolitical) cho việc tấn công Ba-Tư. Từ thời đại Chiến Tranh Lạnh (Cold War), Hoa Kỳ vẫn dùng một nước trong vùng Trung Đông như là một bàn đạp để phát huy sức mạnh và ảnh hưởng của mình ra toàn khu vực. Trong một thời gian 25 năm, nước đó là Ba-Tư nằm dưới quyền thống trị của vua Shah. Hiện thời là nước Ả-Rập (Saudi Arabia), nhưng tại đây không chắc có được triển vọng cho một sự ổn định lâu dài. Còn mơ ước viễn vông cho Iraq trở thành một đồng minh then chốt của Mỹ trong vùng này sau cuộc xâm chiếm đã bay tan theo mây khói. Một vài nhân vật ở Hoa Thịnh Đốn đưa ra ý kiến mới: khi khói bụi chiến tranh tàn lụi và chìm lắng sau trận tấn công xâm chiếm Ba-Tư, một quốc gia Ba-Tư mới sẽ thành hình trong tình trạng ổn định vững chắc và thân thiện với Hoa Kỳ.

Lý do rõ ràng và hiển nhiên nhất để phải tấn công đánh Ba-Tư là sự chiến thắng về phưong diện có quyền xử dụng số lượng dầu cung cấp khổng lồ của nước này. Khi ông Winston Churchill (Cựu Thủ Tướng Anh Quốc vào thời trước, trong, và sau Đệ Nhị Thế Chiến) giúp chiếm đoạt kỹ nghệ dầu hỏa của Ba-Tư vào những năm trong thập niên 1920, ông ta đã gọi đó là “một phần thưởng vượt xa ngoài tầm với từ chốn thần tiên trong giấc mơ kỳ diệu nhất của chúng ta.” Đó vẫn còn là sự thật như vậy. Bất chấp những nhà hoạch định chính sách ở Hoa Thịnh Đốn (hay bất cứ ở nơi nào khác) đã phát biểu ý kiến gì đi nữa, thì sự thật là không một quốc gia nào trên thế giới đã không nghĩ đến lượng dầu hỏa tồn trữ của nước Ba-Tư khi có bất cứ hành động hay chính sách gì đối với họ. Đặc biệt là đúng thật như thế đối với chính phủ Bush, một chính phủ đồng minh rất gần gủi với kỹ nghệ dầu hỏa, nhiều hơn tất cả những chính phủ đã nằm trong lịch sử nước Hoa Kỳ.

Tổng Thống Bush và những viên chức chung quanh ông có thể có nhiều lý do khác để cảm thấy quyến rũ trong ý tưởng xâm chiếm Ba-Tư. Một số người tin tưởng rằng (cho mặc dầu ngược lại với các chứng cớ) cái chìa khóa cho sự chiến thẳng ở Iraq là sự nghiền nát chế độ đương thời của Ba-Tư. Chính Tổng Thống Bush đã nói nhiều lần là ông ta tin chờ lịch sử sẽ giãi tội cho ông; đó là một lý lẽ có thể dùng để biện minh cho cả những quyết định điên rồ nhất của một tổng thống. Dưới những lý lẽ tranh cải này, còn có thêm một mối thúc đẩy phổ biến hơn.

Các nhà lãnh đạo Mỹ, dứt khoát ngay cả chính Tổng Thống Bush, tin tưởng rằng vì Hoa Kỳ là một cường quốc, nên họ có quyền và mang trọng trách phải phản ứng mạnh mẻ và gây ấn tượng một cách đầy kịch tính khi có chuyện bất an xảy ra bất kỳ nơi nào trên thế giới. Mối thúc đẩy đầy trực tính này ít nhất là đã được xác định từ thời kỳ của Thucydides (sử gia Hy Lạp {Greece}, vào thế kỷ thứ 5 B.C.), người đã viết rằng: nhiều quốc gia có “ý thiên phú tự bắt buộc (theo trực tính) phải thống trị khi có khả năng hoặc được cơ hội cho phép.” Gần đây hơn, trong một cuộc nghiên cứu về cuộc Chiến Tranh Tây Ban Nha - Mỹ (Spanish-American War) đã có nhiều sự thích hợp xác đáng với thời thế hiện tại; sử gia người Anh, ông Joseph Smith đã viết là sự háo hức tấn công những vùng đất ngoại bang của người Mỹ phát sinh từ “sự hung hăn trong chủ nghĩa tự kiêu của quốc thể và tính lãng mạn kèm trong ý niệm cường quốc.” Một số người ở Hoa Thịnh Đốn tin rằng: xâm chiếm, lật đổ, và chiếm đóng chỉ đơn giãn là những gì các nước cường quốc phải làm. Họ tranh luận rằng nếu không như thế thì không cần gì phải có sức mạnh của một cường quốc.

“Tại thời điểm này trong lịch sử, nếu có vấn đề gì xảy ra, chúng ta đang được mong đợi phải giãi quyết nó,” Tổng Thống Bush đã nói như thế trước khi mở cuộc tấn công vào Iraq. Theo tiêu chuẩn của ông ta, Ba-Tư chắc chắn đang trở thành một “vấn đề”. Và đó đã gợi đến cái ý là ông ta có thể quyết định hạ lệnh cho một cuộc tấn công để ông ta “giãi quyết nó”.

Trước khi những cường quốc đi đến những quyết định có tầm với sâu xa và có thể sẽ thay đổi thế giới, thường thì những người lãnh đạo này cân nhắc và suy xét những bài học đã trải qua trong lịch sử. Bất cứ một cuộc thảo luận nào về nước Ba-Tư hiện đại, và chắc chắn là bất cứ cuộc tranh cải nào về việc Hoa Kỳ nên can thiệp vào nước này hay chăng, đều phải có một sự đánh giá về những gì đã xảy ra sau lần can thiệp cuối của chúng ta. Vào năm 1953, vì quá hăng say để thành đạt những mục đích ngắn hạn, Hoa Kỳ đã mở lệnh phát huy một chương trình hành động mà vì đó đã mang đến nhiều tai họa cho Ba-Tư và ngay cả chính họ. Mặc dầu thế, một số người ở Hoa Thịnh Đốn vẫn bác bỏ chuyện lịch sử có tính chất phù hợp này, và cho rằng chuyện đó không thích đáng trong tình hình hiện tại. Họ tin rằng lần này, họ có thể tấn công Ba-Tư và sẽ hoàn toàn thắng lợi.

Một số nhân vật tầm vóc trong nước Mỹ đã mô tả sự quyết định xâm chiếm Iraq vào năm 2003 của Tổng Thống George Bush là một chiến lược sai lầm lớn nhất trong lịch sử của quốc gia Hoa Kỳ. Tấn công đánh Ba-Tư vào thời điểm này, sẽ có thể là một tai hại thảm khốc hơn nữa. Nó sẽ: đưa cấp lãnh đạo của xứ này (thành phần mà người dân đang oán ghét vì sự đàn áp của chính phủ hiện thời) lên thành những người anh hùng Hồi Giáo phản kháng lại nước xâm lăng đô hộ Hoa Kỳ; cho họ một động cơ thúc đẩy mạnh mẻ để mở một loạt chiến dịch bạo động nhầm chống đối và phá hoại những tài sản và quyền lợi của người Mỹ trên toàn thế giới; mang đến sự đoàn kết và củng cố giữa những người Ba-Tư theo chủ nghĩa dân tộc, những người Shiite theo chủ nghĩa thu hồi lãnh thổ, những người Hồi Giáo thuộc phe nhóm cực đoan, và vì thế sẽ thu hút thêm vô số tân binh cho các công tác khủng bố; dẫn đến sự suy thoái của cuộc vận động cho nền dân chủ của Ba-Tư và tiêu diệt những viễn tượng cho một sự thay đổi chính trị ở xứ này trong một thời gian ít nhất là thêm một thế hệ nữa; sẽ biến đổi những người dân Ba-Tư mà đang là những người yêu chuộng người Mỹ nhất trong vùng Trung Đông, thành những kẻ thù của Hoa Kỳ; sẽ bắt buộc Hoa Kỳ phải liên lụy sâu đậm vào vùng Vịnh Ba-Tư (Persian Gulf) vô hạn định, buộc Hoa Kỳ phải bênh vực theo bè phái trong mọi tình huống của những xung đột trong vùng và như thế sẽ đưa đến một đám kẻ thù mới cho Hoa Kỳ; làm chính phủ láng giềng Iraq với đa số là người Shiite sẽ nổi điên lên, trong khi Hoa Kỳ lại cần họ giữ yên tịnh những bạo động ở nơi này; và rất có triễn vọng sẽ gây gián đoạn việc cung cấp dầu hỏa từ Trung Đông, mà ảnh hưởng sẽ là tai hại khôn lường cho những nền kinh tế của các nước tây phương.

Với những hậu quả có lẽ gần với sự thật vừa nêu trên, tại sao Hoa Kỳ phải tấn công Ba-Tư? Những người nghiêng theo lối suy nghĩ này cho rằng nó sẽ thực hiện được ba việc: ngăn chặn được Ba-Tư phát triển vũ khí tiêu diệt tập thể (weapons of mass destruction), lật đổ một chế độ hung hăng chống đối người Mỹ, và mang lại một chính phủ dân chủ mới cùng phe với Hoa Kỳ. Chính phủ mới này, theo họ suy đoán, sẽ cho phép những hãng dầu hỏa của người Mỹ được tự do xuất nhập vào số lượng dầu thô của Ba-Tư, và sẽ cho Hoa Kỳ một cơ hội để xây dựng lại những ảnh hưởng trong vùng mà họ đã từng có với Ba-Tư. Những mơ mộng hảo huyền này vừa nguy hiểm, cũng như vừa là ảo tưởng.

Ba-Tư là một trong những quốc gia lâu đời nhất trên thế giới. Lịch sử của nước nầy đầy rẫy những vinh quang rực rở, với những nhân vật lãnh đạo vĩ đại như Cyrus, Xerxes, và Darius, cùng các nhà thơ, nhà hiền triết, mà tất cả đã cống hiến vô hạn cho nền văn hóa nhân loại. Truyền thống phong phú này đã cho dân tộc Ba-Tư một niềm tự hào cộng đồng sung mãn, một cảm giác thiết tha gắn bó với di sản văn hóa quốc túy, và một đặc tính quốc gia vượt qua cả những hành động yêu nước giã tạo như đưa tay phất cờ và tung hô khẩu hiệu. Phần đông dân chúng Ba-Tư ghét cay đắng chế độ mà họ phải đang sống dưới ách hiện tại, nhưng chuyện đó vẫn không làm suy chuyển sức gắn bó giữa họ và đất nước Ba-Tư. Tất cả họ đều biết là khi nước Hoa Kỳ vừa hình thành, thì quốc gia họ đã hiện hửu trên hai ngàn năm. Bất chấp họ đứng về phe nào trên quan điểm chính trị, đa số bọn họ thường xù lông giận dử khi nghe những lời hăm dọa từ Hoa Thịnh Đốn.

Cái ý tưởng Hoa Kỳ có thể thả bom Ba-Tư để biến đất nước này thành một quốc gia dân chủ, xem ra càng vô lý hơn trong cái thức tỉnh của sự suy sụp ở Iraq. Cho người dân Ba-Tư thì đặc biệt nó có một ý mỉa mai bi thảm. Tất cả họ đều biết, nhiều như số người Mỹ không biết, là nền dân chủ đã đang bắt đầu bén rễ trong nước Ba-Tư vào năm 1953, khi mà người Mỹ đã nhúng tay can thiệp và đàn áp chôn vùi nó. Dựa vào sự thật lịch sử này, những người Ba-Tư có thể đáng được tha thứ khi họ nghĩ thật là một sự trớ trêu quá kỳ quái khi hiện nay người Mỹ lại đề nghị làm người giãi phóng họ. Họ đau đớn nhận thức là Hoa Kỳ đã trợ giúp tạo dựng thành cái chính thể tôn giáo trị vì hiện tại đang đàn áp đời sống của họ trước mắt.

Một thiểu số người Ba-Tư tin tưởng rằng những người Mỹ muốn tấn công Ba-Tư phải làm như thế là để mang lại tự do cho họ. Đại đa số không tin ý chính của Hoa Kỳ là tập trung vào việc phá hủy chương trình hạt nhân - một chương trình mà chính Hoa Kỳ đã đề nghị với Ba-Tư vào thập niên 1970, khi vua Shah đang nắm quyền hành. Tất cả người Ba-Tư đều tin tưởng đó là quyền tự nhiên của quốc gia họ trong việc phát triển chương trình này. Đằng sau những động lực nêu trên, đằng sau những hăm dọa càng ngày càng gia tăng trầm trọng theo âm vang tiếng trống của chiến tranh càng lúc càng giống lên ầm ỉ hơn từ Hoa Thịnh Đốn, người dân Ba-Tư càng nhận thấy đây là một chiến dịch rất đáng hoài nghi và vô đạo lý. Họ tin tưởng rằng Hoa Kỳ muốn đưa họ trở thành một nước nữa là đồng minh nữa là chư hầu, để chiếm đoạt nguồn tài nguyên dầu thô của họ và xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ của họ. Đó là lý do thật sự mà Hoa Kỳ đã can thiệp vào Ba-Tư năm 1953, và không có lý do nào để tin rằng những mục đích đó đã thực sự thay đổi.

Thuật ngữ dùng tấn công Ba-Tư là ngôn ngữ chính của Hoa Thịnh Đốn từ khi chính phủ Bush lên nắm quyền năm 2001. Tổng Thống Bush đã nỗi tiếng với nét miêu tả chân dung của Ba-Tư là một phần của “trục ác độc” (axis of evil) trên toàn cầu. Trong lễ nhậm chức lần thứ hai, ông ta đã gọi Ba-Tư là “quốc gia chủ yếu đỡ đầu cho khủng bố trên thế giới,” và sau đó ông ta cảnh báo là không chấp nhận được một nước Ba-Tư trỗi dậy lên như một cường quốc hạt nhân. Phó Tổng Thống Dick Cheney đã đặt Ba-Tư lên “danh sách hàng đầu” của những địa điểm có tình trạng bất an của thế giới. Tổng Trưởng Bộ Ngoại Giao Condoleezza Rice tuyên bố hồ sơ nhân quyền của Ba-Tư là “một cái đáng kinh tởm”. John Bolton, cựu Đại Sứ Hoa Kỳ ở Liên Hiệp Quốc, khẳng định đây là lúc “ồ ạt tăng áp lực” với Ba-Tư , và nếu những hình phạt và những biện pháp cưỡng bức không làm chính quyền Ba-Tư thay đổi đường lối, “ thì tôi nghĩ chúng ta cần nhìn đến đáp án áp dụng vũ lực.” Thượng Nghị Sĩ Joseph Lieberman, một trong những người rất trung thành ủng hộ Tổng Thống Bush trong những vấn đề chính sách đối ngoại, đã lên tiếng với một phóng viên truyền hình là nếu người Ba-Tư “không chơi theo luật lệ, chúng ta phải dùng quân lực của chúng ta, và đối với tôi đó kể cả dùng hành động quân sự để bắt buộc họ phải ngừng những gì họ đang làm.”

Lieberman đã dùng một luận cứ mới để biện hộ cho việc ông kêu gọi tấn công Ba-Tư. Ông ta đã buộc tội Ba-Tư trợ giúp kháng chiến quân ở Iraq, và những sự trợ giúp này đã gây ra nhiều hậu quả tai hại, mang đến trên hai trăm lính Mỹ tử vong. Đây là một luận cứ xuất sắc phi thường, mĩa mai thây. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, khối Liên Sô (the Soviet Union) cung cấp cho Bắc Việt Nam vũ khí và đạn dược dùng để giết chết hàng chục ngàn người lính Mỹ. Trung Hoa (China) đã cũng làm thế với đồng minh Bắc Triều Tiên (North Korea) vào những năm trong thập niên 1950. Hoa Kỳ đâu có tấn công những quốc gia cung cấp vũ khí này vào thời đó. Cũng không có chuyện chính quyền Sandinista ở Nicaragua (ở Nam Mỹ) có ý muốn tấn công nước Hoa Kỳ vào những năm trong thập niên 1980, khi vũ khí của Mỹ và những chiến sĩ được huấn luyện bởi Mỹ đã giết hàng loạt binh lính và người dân của Nicaragua. Trợ giúp nước bạn và phe đồng minh trong thời chiến tranh là một chiến thuật xưa như chính chiến tranh gián tiếp (proxy war). Hiện nay, với một chính phủ Bush đang hăng hái tìm một vật tế thần cho sự thất bại ở Iraq, ông Lieberman đang kêu gọi khẩn thiết “Hoa Kỳ phải ra tay hành động quân sự hùng hổ với Ba-Tư để ngăn chặn họ giết người Mỹ trong nước Iraq”.

Những từ ngữ hăm dọa này có thể hù được những nước nhược tiểu, nghèo nàn, cô lập, và dễ bị giao động. Khi đem nó hướng vào một quốc gia tự hào như Ba-Tư, thì nó lại có ảnh hưởng phản ngược. Nó đoàn kết người dân và làm cứng rắn thêm sức phản kháng; giống như mọi người ở mọi nơi, không ai thích bị ra lệnh và bắt buộc bởi những người mà họ xem là kẻ hiếp đáp, bắt nạt.

Anh Quốc (Great Britain) là kẻ thù của Ba-Tư trong một thời gian dài đáng kể hơn Hoa Kỳ nhiều, và xem ra họ đã học đuợc bài học ở đây. Năm 1953, khi gián điệp mật vụ Anh làm việc với CIA để lật đổ Thủ Tướng Mossadegh, và theo lề thời gian của thế kỷ thứ 20, sự chống đối gay gắt người Anh trong nước Ba-Tư lúc nào cũng mãnh liệt hơn sự chống đối người Mỹ. Vậy mà khi quân tuần tiểu hải quân của Ba-Tư bắt 19 thủy thủ và lính thủy quân lục chiến của Anh Quốc (những người mà họ nói là đã vi phạm vào hải phận của họ bất hợp pháp) vào mùa xuân năm 2007, những nhà lãnh đạo của Anh Quốc đã phản ứng theo một cách thật sửng sốt, và hoàn toàn khác hẳn với phưong cách của những nhà lãnh đạo Mỹ nếu trường hợp xảy ra với những người lính bị bắt đó là lính bộ binh của Mỹ. Thủ Tướng Anh Tony Blair tuyên bố lập đi lập lại, khẳng định là ông ta chỉ theo đuổi những đường lối ngoại giao để mang đến tự do cho những người bị bắt này, và dứt khoát từ chối hẳn phương án dùng vũ lực. Hiển nhiên chuyện đó đã gây ấn tượng rất sâu đậm với chính quyền Ba-Tư, nên sau đó không lâu họ đã phóng thích những người bị bắt này. Một sự việc rắc rối có thể sẽ phải đưa ra một cơn khủng hoảng lâu dài và rất mất ổn định, đã được giãi quyết qua thương lượng mà không bên nào bị mất mặt.

Những người Mỹ lãnh đạo không những chỉ tóm lấy mỗi cơ hội có được để gầm gừ với Ba-Tư, mà còn chủ động đề xuất một loạt hoạt động nhằm phá rối gây mất ổn định cho chế độ Hồi Giáo đương thời. Những hoạt động này có thể coi là những trò gián điệp ngầm nếu mà chính quyền Ba-Tư đã không biết trước quá rõ. Một phần của hoạt động này là đưa vào hàng chục triệu đô-la (dollars) cho những phần tử được xem là phe hổ trợ chính sách dân chủ trong Ba-Tư. Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi những giáo sĩ (mullahs) Hồi Giáo trong cấp lãnh đạo của Ba-Tư đã xem tất cả những tổ chức tư nhân trong nước là một công cụ tiềm tàng của người Mỹ dùng cho những ý đồ xâm lược và lật đổ chế độ. Họ đã tung ra những cuộc trừng trị đàn áp thẳng tay với những tổ chức này và kết quả là hằng trăm người có tư duy đổi mới cho đất nước Ba-Tư đã bị giam cầm trong trại tù Evin ở Tehran; nơi mà phương pháp hành hạ tù nhân và tệ nạn nhân quyền không thua gì ở trại tù Guantánamo của người Mỹ ở Cu-Ba (Cuba). Những kẻ chống đối này đã cho biết, khi họ bị bắt giam những người tra vấn họ đều có chung một chú tâm duy nhất khi tra hỏi là: tiền ở đâu ra và phần nào là của người Mỹ đưa vào. Bằng cách công khai trích quỹ quốc gia cho chương trình này để cố ý làm hại chế độ ở Ba-Tư, vô hình chung Hoa Kỳ đã trợ giúp chế độ này có lý do để bắt bớ giam cầm những người phe đối lập này, làm thu nhỏ không gian phát triển nền dân chủ trong nước, và làm thụt lùi lại những tự do mà dân Ba-Tư đang phấn đấu thành hình.

Bên cạnh những toan tính vụng về để cố tạo lại khung cảnh chính trị trong nước Ba-Tư, Hoa Kỳ cũng đang tiến hành những cách can thiệp trực tiếp hơn. Họ đã đưa hạm đội hải quân vào Vịnh Ba-Tư (Persian Gulf) và mang máy bay thả bom hạng nặng vào nước lân cận Qatar. Thêm nữa, theo tin tức báo cáo, Hoa Kỳ đã bắt đầu bí mật xuất công quỷ tài trợ cho những băng đảng võ trang của Kurds, Baluchis, Azeris, và những đám dân tộc thiểu số khác trong nước Ba-Tư; những người đã công nhận có trách nhiệm trong việc ám sát những nhân viên chính phủ Ba-Tư và chiến sĩ Vệ Quân Cách Mạng (Revolutionary Guard). Đây là những phương cách làm áp lực với mục đích cho chế độ ở Ba-Tư phải lo sợ và suy nhược tinh thần; thế nhưng ngược lại, nó mang đến sự đàn áp ác liệt hơn với những người phê bình chống đối chế độ trong nước.

Cái lý thuyết đằng sau chính sách của Hoa Kỳ đối với Ba-Tư hình như là chế độ Ba-Tư yếu đuối và dễ bị công kích bằng những phương pháp làm áp lực thông thường. Thật ra, chế độ này hùng mạnh hơn bao giờ hết. Sự sụp đổ của khối Liên Sô đã giãm mạnh áp lực vùng biên giới miền bắc của Ba-Tư, mang đến sự thành hình của thêm nữa tá quốc gia mới với người Hồi Giáo là đa số, và nó mở ra một số cơ hội chiến lược mới cho nước Ba-Tư. Giá dầu tăng cao đã cho Ba-Tư một nền kinh tế vững mạnh trong mấy năm đầu tiên của thế kỹ mới. Rồi, bất ngờ, Hoa Kỳ, nước đang hò hét ầm ỉ dẫn đầu một liên minh quốc tế bài chống Ba-Tư, ban cho Ba-Tư một đặc ân bằng cách tiêu diệt hai chế độ mà Ba-Tư lo sợ nhiều nhất: chế độ Taliban của A-Phú-Hãn (Afghanistan), một chế độ cai trị bởi những kẻ cực đoan cuồng tín Sunni đang chống đối chế độ Ba-Tư, và chính quyền Saddam Hussein của Iraq, một chính quyền mà Ba-Tư đã chiến đấu một cuộc chiến tranh tàn khốc vào những năm của thập niên 1980.

Thế lực ảnh hưởng của Ba-Tư trong vùng Trung Đông đã lớn mạnh vững vàng từ khi Hoa Kỳ xâm lăng Iraq. Tân chính quyền của Iraq với đa số là người Shiites, những người khâm phục và làm việc sát cánh với Ba-Tư. Tổng Thống Hamid Karzai của A-Phú-Hãn đã rộng mở vòng tay chào đón Ba-Tư như là “người bạn thân yêu của chúng ta”. Ở Lebanon, chính quyền Ba-Tư đã chiến thắng một trận chiến mà những người Hồi Giáo cho là một chiến thắng vĩ đại vào năm 2006, khi mà đoàn dân quân Hezbollah dưới sự trợ giúp của Ba-Tư đã chận đứng những cuộc tấn công của Do Thái và ra tay gánh vác những công trình kiến thiết sau trận chiến.

Với nước Iraq đang trong hỗn loạn, và Syria cùng Ai-Cập (Egypt) đang chìm đắm trong những khó khăn riêng của đất nước, Ba-Tư đã trở thành một quốc gia thế lực Hồi Giáo duy nhất trong vùng Trung Đông có thể uốn nắn những sự kiện quan trọng vượt quá hạn biên giới của họ. Ba-Tư đã tăng thêm ảnh hưởng của họ trên những nước Iraq, Lebanon, Syria, và người dân Palestines, cùng với những “phần tử vô tổ quốc” như Hezbollah, Hamas, và Islamic Jihad (Chiến Binh Tôn Giáo). Trong lịch sử hiện đại, chưa bao giờ Ba-Tư được hùng mạnh hơn bây giờ. Phần lớn của tai ác này, là hậu quả do những việc làm của Hoa Kỳ. Sự trỗi dậy hùng mạnh của Ba-Tư không phải là do công trình cố gắng của riêng họ, mà do cấp lãnh đạo của họ chỉ lợi dụng những hành động sai lầm của Hoa Kỳ đó thôi.

Hoa Kỳ đã dùng bạo lực để cắt ngang hành trình tiến triễn đến tự do của Ba-Tư vào năm 1953 khi họ lật đổ Thủ Tướng Mossadegh, và những hậu quả dài hạn đã tàn phá cả hai quốc gia. Nửa thế kỷ sau, một đám lãnh đạo Mỹ lại ra lệnh xâm chiếm Iraq, với một hậu quả thê thảm so sánh được. Bất chấp những thất bại này, một số trong Hoa Thịnh Đốn vẫn tin tưởng sức mạnh quân sự có khả năng mang đến thay đổi tích cực trong Ba-Tư. Không ai hãi hùng lo sợ về niềm tin trên hơn là đoàn dân yêu chuộng dân-chủ trong nước Ba-Tư, những người đang triễn khai chiến dịch thay đổi đất nước Ba Tư với nhiều rủi ro đến ngay chính tính mạng họ.

“Lẽ dỉ nhiên là chế độ hiện tại ở Ba-Tư đang mang lỗi vi phạm quyền công dân tối thiểu của dân chúng trong nước,” ông Akbar Ganji, một người đối lập Ba-Tư đã bị giam cầm dã man ròng rã sáu năm trời sau khi viết một cuốn sách buộc tội nhân viên chính phủ Ba-Tư đã ra lệnh ám sát những chính trị gia của phe đối lập, đã phát biểu với một người phóng viên vào năm 2007. “Nhưng một cuộc tấn công quân sự, không phải là một phản ứng hiệu quả và cũng không thích đáng… Một cuộc tấn công sẽ gây tai họa cho người dân vô tội ở Ba-Tư và trong khu vực… Nó sẽ khuyến khích sự phát triễn của trào lưu chính thống đạo Hồi Giáo, và châm lại ngòi lửa tin tưởng chính là Công Giáo Judeo truyền thống của phưong tây, dẫn đầu bởi Hoa Kỳ, đang tấn công thế giới Hồi Giáo, từ A-Phú-Hãn và Palestine đến Iraq và Ba-Tư… Hăm dọa quân sự của Hoa Kỳ trong hiện tại đã mang đến cho chính phủ Ba-Tư sự tự do đàn áp những phần tử trong nước đang mong muốn xây dựng một xã hội dân chủ, dưới danh nghĩa an ninh quốc gia, và khiếm khuyết một hướng đi dân chủ mà những người cải cách này thấy họ đang bị giằng co giữa hai sự việc lật đổ nội chính và xâm lược của ngoại bang. Thay đổi chính trị ở Ba-Tư là việc cần thiết, nhưng không thể đạt được bằng sự can thiệp của ngoại bang.”

Cùng trong cuộc phỏng vấn đó, Ganji đưa ra một điểm mà luôn được nêu lên thường xuyên. Ông ta nói, Hoa Kỳ không có uy tín để làm kẻ mang đến nền dân chủ cho Ba-Tư vì vai trò của họ đã trong cuộc phá vỡ nền dân chủ của Ba-Tư vào nữa thế kỷ trước – và vì họ đã hoàn toàn thất bại sau đó trong việc quan tâm đến phát triễn Ba-Tư thành một xã hội dân chính văn minh.

“Tôi tin tưởng phần đông người Ba-Tư đồng chia sẻ một nét nhìn tổng quát về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ,” ông Ganji nói, “Họ đều nghĩ là Ba-Tư chỉ có giá trị về khối năng lượng bao la và vai trò chính trị trong khu vực; còn về những lãnh vực văn hóa, phát triễn kinh tế, hòa bình, phúc lợi và căn bản quyền công dân của người Ba-Tư, đều đa phần là không thích đáng cho những người làm chính sách của Hoa Kỳ… Người dân Ba-Tư không bao giờ quên cuộc đảo chính năm 1953 mà ngươi Mỹ đã trợ giúp lật đổ một chính quyền theo chủ nghĩa dân tộc, ôn hòa, chính phủ dân chủ của Tiến Sĩ Mohammad Mosadegh và thay vào đó đưa dẫn vào một guồng máy chính trị độc tài và khép kín. Xã hội Ba-Tư đã mất đi một cơ hội quan trọng nhất trong lịch sử của đất nước mình để thành lập một nền dân chủ.”

Hoa Kỳ vẫn còn đang trả giá – và là một cái giá khủng khiếp – cho sự can thiệp bằng bạo lực vào Ba-Tư trong những thập niên trước. Nếu bây giờ họ tấn công Ba-Tư, người dân Ba-Tư sẽ không ngừng nhiếc móc họ trong nữa thế ký tới. Những người Mỹ tinh tế nhìn thấy việc này. Giáo Sư A. Rỉchard Norton của trường Đại Học Boston, một chuyên gia có thẩm quyền về những họat động chính trị người Hồi Giáo và cũng là viên cố vấn cho Nhóm Nghiên Cứu Iraq của cả hai phe đảng chính trị Mỹ, đã cảnh báo: “Một cuộc tấn công bởi Hoa Kỳ sẽ phá hoại xoái mòn những tiếng nói thực tiễn trong Ba-Tư, và khuyến khích Ba-Tư làm đời sống vô cùng khó khăn cho người Mỹ ở Iraq và những nơi khác, và có lẽ sẽ gây trở ngại cho việc thương mại dầu thô trên quốc tế.” Milt Bearden, một cựu quan chức CIA, người đã điều khiển cuộc chiến A-Phú-Hãn dưới sự trợ giúp của người Mỹ vào thập niên 1980, đã gọi ý tưởng đó là “khùng”, và chêm thêm, “Gây chiến với Ba-Tư sẽ không mang lại một kết quả lợi ích nào cho bất kỳ ai, ngoại trừ cho chính Ba-Tư”. Ngay cả ông Robert Gates, trước khi trở thành Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng (Secretary of Defense), là một thành viên trong toán nghiên cứu về những lựa chọn của Hoa Kỳ đối với Ba-Tư, đã khuyến cáo nên theo “một chiến lược thay đổi cách tiếp cận” dựa trên giao tiếp và thương thuyết.

Khía cạnh thiết yếu của cách thay đổi tiếp cận là Hoa Kỳ phải lên tiếng đồng ý đàm phán trực tiếp vô điều kiện với Ba-Tư. Chuyện Hoa Kỳ sẵn sàng thương lượng với nhiều chế độ mang đủ tầng lớp ghê tởm, trong khi lại từ chối ngồi xuống với Ba-Tư là một chuyện không chỉ đơn thuần khó hiểu mà còn là một cách tự đánh bại mình. Nhìn tổng quát, thì chính sách đó dựa trên nguyên tắc kỳ quặc: một quốc gia không nên thương lượng với kẻ thù. Những quan chức chính quyền Tổng Thống Bush đã cho biết là họ chống đối đường lối đàm phán rộng rãi với Ba-Tư vì họ không muốn tương thưởng cho những “hành vi xấu xa” của Ba Tư. Thật ra, những quốc gia là kẻ thù của mình và đang có dính dáng với những “hành vi xấu xa”, thì đúng chính xác là những quốc gia cần phải được đàm phán ngay lập tức - đặc biệt là những quốc gia có nhiều quyền lực mang nhiều ảnh hưởng. Và như trong trường hợp của Ba-Tư, đang nằm trong tư thế có nhiều hăm dọa đến nền an ninh toàn cầu. Những đường lối như: bắt nạt, lên án, hăm dọa, đòi hỏi và yêu sách không thể là một nền tảng cho một chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Ba Tư.

Tuy nhiên, có một lý do sâu xa hơn tại sao Hoa Kỳ tự tìm thấy mình không thể thương lượng được với Ba-Tư trong một phần tư thế kỷ vừa qua. Tầng lớp chính trị người Mỹ đã chưa hồi phục từ sự kích động sửng sốt khi bị mất vua Shah, và sự bẻ mặt nhục nhã trong cơn khủng hoảng con tin nhân viên tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Tehran đã bị giam cầm tiếp ngay theo sau đó. Họ lên án chế độ Hồi Giáo cho những xúc phạm này. Một số nhà lãnh đạo trong Hoa Thịnh Đốn nhất quyết phải kéo dài và trì hoãn cuộc trả thù Ba-Tư, còn hơn là xây dựng một liên hệ mới với chính phủ và người dân nước này. Cho đến khi nào Hoa Kỳ nhảy vọt vượt qua được bức chắn tâm lý này, và từ khước sự nóng nảy trong việc đàm phán đứng đắn thực sự với Ba-Tư, thì sẽ không có cải tiến trong mối quan hệ đôi bên.

Cơn khủng hoảng về chương trình hạt nhân càng tăng cao làm chuyện đàm phán càng khẩn trương hơn bao giờ hết. Để có cơ hội thành công, những cuộc đàm phán này phải trực tiếp và song phương, vì chỉ có Hoa Kỳ mới có đủ hạn lực mang đến cho Ba-Tư sự bảo đảm an toàn cần thiết (như một thành phần của bất cứ một hiệp định nào trong tương lai). Những cuộc đàm phán này phải đuợc thành hình vô điều kiện, và cả hai bên đều được khuyến khích phải nêu rõ mỗi vấn đề bất đồng ý kiến. Những cuộc họp giữa các nhà ngoại giao Mỹ và Ba-Tư để thảo luận phương cách làm ổn định Iraq, những cuộc họp đầu tiên từ khi cuộc Cách Mạng Hồi Giáo xảy ra, có thể dùng như là bàn đạp để tiến đến những cuộc hội thảo rộng lớn hơn. Cả hai bên đều ghi nhận những cuộc họp như thế này là “tích cực”, nhưng nó chỉ thật là tích cực nếu nó dẫn đến những cuộc thương lượng bao hàm toàn diện.

Một kiểu mẫu lý tưởng cho những cuộc đàm phán này là dựa theo chính sách của Hoa Kỳ và Trung Quốc đã thực hiện trong thời gian họ hàn gắn mối quan hệ giữa đôi bên vào thập niên 1970. Văn bản đầu tiên xuất hiện trong quá trình này là bản Thông Giao Thượng Hải (Shanghai Communiqué). Một văn bản thật rất dễ nhầm lẫn là quá đơn giãn. Trong đó, không có bên nào đã phải cam kết hay nhượng bộ. Bản thông giao này đơn thuần chỉ là một danh sách của những lo ngại của mỗi bên và một lời hứa cam kết cả đôi bên sẽ thương lượng một cách thật sự nghiêm chỉnh để giãi quyết những mối lo ngại này. Một văn bản tương tự có thể dùng làm đầu cầu cho mối liên hệ giữa Hoa Kỳ và Ba-Tư.

Hai quốc gia có thể lên danh sách những mối lo ngại gì lẫn nhau? Hoa Kỳ chắc chắn sẽ đặt chương trình hạt nhân của Ba-Tư lên hàng đầu danh sách, với sát theo sau là việc Ba-Tư trợ giúp khủng bố trên thế giới. Ba-Tư sẽ nêu lên những chiến dịch của người Mỹ nhắm vào việc làm mất ổn định chế độ hiện tại. Cả hai bên đều tin rằng, phe bên kia đang nuôi dưỡng những mối bạo động trong vùng Trung Đông.

Vượt qua những chuyện này và một số vấn đề bất đồng hiển nhiên, tuy vậy, vẫn có một số việc thật phi thường khi cả hai bên Hoa Kỳ và Ba-Tư sẽ có thể cùng chung ý hướng. Hai quốc gia này không có định mệnh làm kẻ thù lẫn nhau mãi mãi. Thật ra, họ chia sẻ với nhau nhiều mục đích chiến lược và có nhiều tiềm năng trở thành đồng minh. Cả hai đều mong muốn tình hình được ổn định ở Iraq và A-Phú-Hãn. Cả hai đều ghét cay đắng những phong trào của các phe cấp tiến Sunni như Al-Qaeda và Taliban. Cả hai, tuy vì lý do khác nhau, đều muốn an tâm về một đường cung cấp dầu thô đều đặn và bền vững trên thị trường tây phương. Kỹ nghệ dầu thô ở Ba-Tư đang trong tình trạng xuống cấp nguy hiểm và cần hằng chục tỷ đô-la đầu tư; Hoa Kỳ có một ngân khoản dự trử khổng lồ và một niềm khao khát thèm muốn dầu không nguôi.

Người Mỹ sẽ hưởng được nhiều lợi lộc trong mối quan hệ mới với Ba-Tư, đặc biệt là nếu nó dẫn tới sự an bình cho vùng Trung Đông đang trong cơn giận dử điên cuồng xé tan thành mãnh. Ba-Tư cũng sẽ được hưởng lợi. Khoảng cách giữa chế độ và người dân, giống như khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, càng ngày càng đang nới rộng hơn bao giờ trong thời gian vài thập niên qua. Nạn lạm phát không ngừng. Nạn thất nghiệp tràn lan, nhất là trong tầng lớp trẻ. Những tệ nạn xã hội như nghiện ngập và mãi dâm đang hoành hành đến mức độ lên cơn dịch. Những kỹ nghệ “không-dầu-hỏa” dường như không hiện hửu, mà đa phần là do sự kềm chế của chính phủ và thiếu đầu tư của nước ngoài. Trong cái vòng luẩn quẩn không ngừng giữa buộc tội và tố cáo lẫn nhau giữa Hoa Kỳ và Ba-Tư đã ngăn chặn không cho đôi bên cùng thử nghiệm một cách tiếp cận liên hệ mới để cả đôi bên đều hưởng phúc lợi.

Không thể nào chắc chắn được những cuộc thương lượng bao hàm toàn diện giữa Hoa Kỳ và Ba Tư sẽ đưa đến thành công. Nhưng nếu không cố gắng rán sức thử thì đó là một sai lầm lịch sử lớn lao. Hoa Kỳ chỉ cần đơn giản đưa ra một lời đề nghị thành hình một cuộc bàn thảo hỗn hợp, chỉ việc đó thôi có thể sẽ đưa đến một cuộc khủng hoảng nho nhỏ trong nội bộ chính phủ hiện tại của Ba-Tư. Với những người phe lập trường bảo thủ (hard-liners) tranh đấu với những người phe tiên tiến thực tiễn (pragmatists) qua việc có chấp thuận đề nghị đó hay không.

Một khi những cuộc thương lượng bắt đầu, cách duy nhất dẫn đến cho họ thành công là bằng một thỏa hiệp dung hòa, và đó là một chuyện mà cả hai bên đều chưa đồng chấp thuận trong hiện thời. Mặc dầu thế, đó sẽ là trọng tâm cho những cuộc thương lượng. Mở đường lối thương lượng bao hàm toàn diện với Ba-Tư không phải là một sự tương thưởng cho những “hành vi xấu xa” mà là một sự tìm kiếm cho những đáp án có thể hòa giãi xung đột bất định, và góp phần vào nền an ninh toàn cầu.

Cách duy nhất có thể mong đợi hợp lý với việc Ba-Tư hạn chế những hoài bảo hạt nhân là qua một “thỏa thuận rộng rãi”, mà trong đó có đề cập những mối lo ngại về an ninh của chính quốc gia họ. Chuyện đó có thể sẽ bắt buộc một giãi đáp vượt ngoài biên giới của Ba-Tư và thành lập một cấu trúc an ninh mới cho vùng Trung Đông. Nó không có hợp lý mong đợi Ba-Tư bãi bỏ chương trình hạt nhân của họ, một khi mà kẻ thù chính của họ trong vùng là Do Thái, và kẻ thù chính của họ trên thế giới là Hoa Kỳ, đều võ trang với vũ khí hạt nhân và đang phát ra những lời hăm dọa uy hiếp tuôn trào không cần che dấu đến nước Ba-Tư.

Một hòa ước mà những người đàm phán có thể xem xét để làm thí dụ là văn bản hòa ước đã được ký kết bởi Hoa Kỳ và Bắc Triều Tiên vào năm 2007. Để trao đổi cho lời hứa của Bắc Triều Tiên sẽ chấp nhận sự “dẫn đến việc bãi bỏ” chương trình hạt nhân của họ, Hoa Kỳ đã chấp nhận “đi đến quan hệ ngoại giao toàn diện” với Bắc Triều Tiên; giảm bớt những hình phạt kinh tế đối với chế độ Bắc Triều Tiên; “bắt đầu tiến hành” rút tên Bắc Triều Tiên ra khỏi danh sách của những quốc gia trợ giúp khủng bố và danh sách của những quốc gia với những giao dịch thương mại bị cấm bởi “Đạo Luật Giao Thương với Kẻ Thù” (Trading with the Enemy Act); và thành lập những nhóm đặc phái của chính phủ để làm việc thương lượng việc bãi bỏ vũ khí hạt nhân trong vùng và một “cơ chế an ninh và nền hòa bình trong vùng đông bắc Á Châu.” Nếu những nguyên tắc này có thể thành hình một hòa ước giữa Hoa Kỳ và Bắc Triều Tiên, thì nó có thể áp dụng vào Ba-Tư, một nước có nhiều tiềm năng đóng góp phần vào – hay xoáy mòn hủy hoại - nền an ninh toàn cầu hơn là Bắc Triều Tiên.

Để đạt đến mục đích thành công dài hạn, chiến lược xúc tiến ngoại giao của người Mỹ phải bao hàm rộng rãi hơn ngoài việc chỉ đàm phán với chế độ này. Trước khi Ba-Tư trở thành ổn định và dân chủ, người dân trong nước phải có một giai cấp trung lưu đa số và bền vững. Đây trở thành một hành động khẩn cấp cho Hoa Kỳ phải xúc tiến quảng bá tất cả hạng loại giao dịch, từ xã hội, chính trị, đến kinh tế với mỗi tầng lớp dân chúng trong xã hội Ba-Tư. Trong không khí đổi mới này, những doanh nghiệp của người Mỹ thay vì bị cấm giao thương với Ba-Tư sẽ được khuyến khích và cổ võ. Thay vì hạn chế chặt chẻ con số cấp giấy phép chấp thuận cho nhập cảnh đối với người Ba-Tư, Hoa Kỳ cần phải làm ngược lại: mời càng nhiều người Ba-Tư nhập cảnh vào Hoa Kỳ càng tốt, và tràn ngập nước Ba-Tư với người Mỹ, từ học sinh, giáo sư, nông dân, và thương gia, đến văn sĩ và nghệ sĩ.

Ba-Tư đang rất sẳn sàng để lợi dùng lối giao tiếp này. Họ đang có một xã hội phát triễn mạnh mẻ và khát khao được giao dịch tiếp xúc với thế giới bên ngoài, và đây cũng là một xã hội có ý thức dân chủ dài trên một thế kỷ. Như đã thấy một cách đau đớn với sự thất bại ở Iraq, nền dân chủ không thể cài đặt vào một quốc gia từ bên ngoài. Dân chủ không phải là một lề lối sống mà là một phương cách xúc tiến để giãi quyết nhiều vấn đề. Trong bất cứ xã hội nào, ý thức về giá trị của nền dân chủ đều được nẩy mầm, đâm chồi, phát triễn trong quá trình từ từ và chậm rãi. Không giống như những nước láng giềng của mình, Ba-Tư đã và đang tiến tới nền dân chủ từ khi họ chọn hiến pháp đầu tiên cho nước họ cách đây hơn một thế kỷ trước. Hiến pháp của Ba-Tư đã không luôn luôn được tuân thủ, và những cuộc bỏ phiếu ở Ba-Tư không luôn luôn được công bằng. Mặc dầu vậy, qua một thời gian dài này, người dân Ba-Tư đã mở mang ý thức với một tầm hiểu biết sâu sắc về cái ý nghĩa của một nền dân chủ. Đa số khao khát nó. Phần đất gây mầm cho hạt giống dân chủ biến đổi Ba-Tư nhiều hơn hầu hết các nước Hồi Giáo khác. Một chuyện không thể tin được, nhưng sự thật là đa số người dân ở Ba-Tư đều còn giử lại một niềm ngưỡng mộ khâm phục đối với Hoa Kỳ. Các nhà lãnh đạo Mỹ nên lợi dụng ưu thế này trong quá trình thành hình chiến lược ngoại giao với Ba Tư

Cái ý tưởng tấn công Ba-Tư và tìm cách chặt đứt chế độ hiện tại tin theo một giả thiết vô cùng nguy hiểm: đó là dù chế độ nào đến sau này, cũng vẫn khá hơn cái chế độ trước mắt. Người dân Ba-Tư đã có kinh nghiệm từng trãi để bác bỏ niềm tin này. Vào những năm cuối của thập niên 1970, họ đã đoàn kết lại cùng nhau - những người cộng sản, những chính thể tôn giáo, những đảng viên tự do đang sùng bái ông Mossadegh - lật đổ vua Shah. Họ đã làm thế vì họ tin theo cái giã thiết là cho dù chế độ nào đến tiếp nối theo sau cũng phải tốt hơn cái chế độ hiện tại. Đa số bây giờ bọn họ đều khẳng định rằng, đó là một điều sai lầm khủng khiếp.

Một số người ở Hoa Thịnh Đốn bàn cải rằng bất cứ chế độ nào vào thay thế ở Ba-Tư đều là một sự cải thiện tốt hơn với chế độ hiện tại - chế độ mà những nhà giáo sĩ lãnh đạo chuyên đàn áp và bài ngoại. Họ sai lầm một cách nguy hiểm. Một cuộc tấn công vào Ba-Tư sẽ đưa nước này vào hỗn loạn như đã bao trùm Iraq. Trong môi trường vô chính phủ này, sẽ không có chính quyền trung ương để kềm chế những phần tử cấp tiến bạo động. Đáng sợ hơn hết là những phần tử này có thể bao gồm những khoa học gia và chuyên gia kỹ thuật hạt nhân. Cơ hội mà những người Ba-Tư này có thể dùng sự hiểu biết về kỹ thuật trên để chuyền đến tay những kẻ khủng bố loại vũ khí sát hại tập thể, sẽ tăng lên nhiều lần so với sau khi bị một cuộc tấn công hơn là tình thế trong hiện tại. Thả bom tàn phá những trung tâm chế tạo hạt nhân ở Ba-Tư – đặt trường hợp là tất cả đều tìm được – cũng chỉ l à một giãi đáp tạm trong nhất thời. Giãi pháp này hầu như chắc chắn là sẽ mang đến thêm nhiều sự hăm dọa hãi hùng hơn từ phía Ba-Tư của ngày hôm nay. Trong chức nhiệm là Giám Đốc của Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (Director of International Atomic Energy Agency), ông Mohammad Albare-dei thường hay chú giãi: công trình kiến trúc đều có thể bị tấn công và tàn phá, nhưng “chúng ta không thể thả bom để tiêu diệt kiến thức”.

Vào năm 1953, bằng bạo lực Hoa Kỳ đã đẩy Ba-Tư ra ngoài lề con đường dẫn đến một nền dân chủ, và đã tạo nên một trôn xoáy mất ổn định, dẫn đến những năm sau đó với những hăm dọa không tưởng tượng đến được. Một chiến dịch dài hạn của người Mỹ với những cô lập, áp lực, và cảnh cáo đã không mang lại thay đổi gì trong những hành vi của Ba-Tư. Tiếp tục đường lối đó sẽ có nghĩa là sự căng thẳng tăng lên đều đều, mà một số người ở Hoa Thịnh Đốn tin rằng sẽ đưa đến cực điểm của một cuộc tấn công quân sự. Một cuộc tấn công như thế sẽ dẫn đến một thời kỳ nỗi dậy chấn động trong Ba-Tư và toàn khu vực, nhưng lần này sẽ được bao trùm với một nét khiếp đảm của vũ khí hạt nhân.

Điệp Vụ Ajax (Operation Ajax), tên của điệp vụ mà cơ quan tình báo CIA dùng trong âm mưu lật đổ Thủ Tướng Mossadegh, đã mang đến một tấn thảm kịch khôn lường cho Ba-Tư, góp phần vào sự đưa lên phong trào khủng bố chống đối người Mỹ, và cuối cùng, làm suy yếu trầm trọng nền an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Rất ít sự kiện trong lịch sử của thế thứ 20 gây được sự tóm tắt hoàn hảo hơn về khái niệm “phản tuyên truyền” (“blowback”) trong khuôn khổ chính sách đối ngoại. Ngày nay, những ngôn ngữ chống đối Ba-Tư càng lúc càng được gióng cao, thì sự việc càng rất cấp bách hơn cho người Mỹ hiểu về cái tai hại khốc liệt đã thành hình ra sao trong lần sau cùng nước Hoa Kỳ tấn công Ba-Tư. Hoa Kỳ nên suy nghĩ cân nhắc câu hỏi: “Hoa Kỳ có trách nhiệm luân lý gì đối với Ba-Tư trong cái thức tỉnh của lịch sử đau thương này?”

Bằng cách chấm dứt một phần tư thế kỷ cay đắng chống đối mà người Mỹ đã mang nặng với Trung Quốc, Tổng Thống Richard Nixon cho thế giới thấy một khả năng nhận thức sắp đặt lại cán cân của sức mạnh toàn cầu. Cuộc đánh bạc của ông ta đã tạo hình dáng mới cho dòng lịch sử. Hiện nay thế giới đang kêu gọi một nhà lãnh đạo Mỹ có khả năng táo bạo sánh ngang như vậy. Một người có thể hình dung được một mối quan hệ giữa Ba-Tư và Hoa Kỳ hoàn toàn khác xa mối quan hệ đã và đang tồn tại từ năm 1979.


Dịch bởi Alexander Le

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét